Thư viện Online
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật
  • Trang chủ
  • Sách mới cập nhật

Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini - Chương 3.4

  1. Home
  2. Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini
  3. Chương 3.4
Prev
Next

Mariam

THÁNG CHÍN, NĂM 1997

“Bệnh viện này không điều trị cho phụ nữ nữa,” người gác cổng quát. Anh ta đứng trên đầu cầu thang, lạnh lùng nhìn xuống đám đông đang tụ tập ở trước bệnh viện Malalai.

Một tiếng rên lớn phát ra từ trong đám đông.

“Nhưng đây là bệnh viện của phụ nữ!” một người phụ nữ phía sau Mariam hét lên. Những người khác cũng la hét ủng hộ theo.

Mariam chuyển Aziza sang tay bên kia. Với cánh tay còn lại cô đỡ Laila đang rên rỉ, một cánh tay của Laila đang quàng qua cổ Rasheed.

“Bây giờ không thế nữa,” người lính Taliban nói.

“Vợ tôi sắp sinh rồi!” một người đàn ông đậm người hét lên. “Chẳng nhẽ anh nỡ bắt cô ấy phải sinh nở ngoài đường hay sao, người anh em?”

Vào tháng Một năm đó, Mariam đã được nghe thông báo rằng đàn ông và đàn bà sẽ phải nằm ở những bệnh viện khác nhau và tất cả nhân viên nữ sẽ bị sa thải khỏi các bệnh viện của Kabul và được dồn đến làm việc trong một khu trung tâm. Không ai tin vào thông báo ấy. Taliban cũng không bắt buộc thực thi chính sách đó. Cho đến tận bây giờ.

“Thế còn bệnh viện Ali Abad thì sao?” một người đàn ông khác hét lên.

Người gác cổng lắc đầu.

“Wazir Akbar Khan?”

“Chỉ dành cho đàn ông thôi,” anh ta trả lời.

“Vậy thì chúng tôi phải làm thế nào?”

“Đến bệnh viện Rabia Balkhi,” người gác cổng nói.

Một phụ nữ trẻ tiến về phía trước, nói rằng cô đã từng ở đó. Họ không có nước sạch, cô ấy nói, không có bình ô xy, không thuốc men và cũng không có điện. “Ở đó chẳng có gì cả.”

“Đó là nơi mọi người phải đến,” người gác cửa nói.

Có thêm nhiều tiếng than vãn và la hét, một hay hai lời lăng mạ. Một số người thì ném đá.

Tay lính Taliban nâng khẩu AK lên và lia một tràng vào không trung. Một tay lính Taliban khác đằng sau anh ta vung roi lên.

Đám đông nhanh chóng giải tán.

—★—

Phòng chờ ở Rabia Balkhi đông nghẹt những phụ nữ mặc burqa và con cái họ. Không khí nồng nặc mùi mồ hôi, mùi cơ thể không được tắm gội, mùi chân, mùi nước tiểu, mùi thuốc lá và mùi chất khử trùng. Bên dưới cái quạt trần đứng im, đám trẻ con rượt đuối nhau, nhảy qua những đôi chân duỗi dài của các ông bố đang gà gật.

Mariam giúp Laila ngồi dựa vào tường, những mảng thạch cao giống như hình các nước ngoại quốc đã bong ra. Laila cứ lắc lư người ra đằng trước rồi về đằng sau, hai tay ấn chặt lấy bụng.

“Tôi sẽ tìm cách để cô được khám, Laila thân mến. Tôi hứa.”

“Nhanh lên,” Rasheed nói.

Trước cửa sổ phòng đăng ký là một đám đông phụ nữ đang xô lấn, chen đẩy nhau. Một vài người vẫn bế cả con. Có người tách ra khỏi đám đông và lao về phía cửa dẫn tới phòng khám. Một tay lính Taliban có vũ khí đứng chặn trước lối đi và bắt họ quay trở lại.

Mariam hăng hái tiến đến. Cô cương quyết lách qua khuỷu tay, hông và vai của những người lạ. Có ai đó thúc vào xương sườn cô và cô thúc trở lại. Một bàn tay chộp mạnh vào mặt cô. Cô gạt đi. Để có thể tiến lên phía trước, Mariam phải vồ lấy cổ, cánh tay, khuỷu tay và tóc người khác và khi một người phụ nữ gần đấy rít lên giận dữ, cô cũng rít lại.

Giờ đây Mariam đã thấy sự hy sinh mà một người mẹ phải thực hiện. Sự đứng đắn chỉ là một. Cô buồn rầu nghĩ về mẹ Nana, về những hy sinh bà cũng đã chấp nhận. Lẽ ra bà đã có thể từ bỏ cô, hoặc có thể vứt cô ở một cái rãnh nào đó rồi bỏ đi. Nhưng bà đã không làm vậy. Thay vào đó, bà đã phải chịu đựng nỗi nhục nhã khi mang trong mình một harami, bà đã gắn cuộc đời mình vào một nhiệm vụ bạc bẽo là nuôi lớn Mariam và yêu thương cô theo cách riêng của bà. Để rồi cuối cùng, Mariam lại chọn Jalil chứ không phải bà. Khi giành giật lối đi với một quyết tâm trơ trẽn để vượt lên trước cái mớ hỗn độn này, Mariam ước gì cô đã là một đứa con gái ngoan ngoãn hơn của mẹ Nana. Cô ước rằng lúc đó cô có thể hiểu được điều mà bây giờ cô đã hiểu về tình mẫu tử.

Cô nhận thấy mình đang đứng trước một bà y tá – người trùm một cái burqa xám, bẩn từ đầu đến chân. Bà y tá đang nói chuyện với một người phụ nữ trẻ mặc chiếc burqa mà mũ đã thấm đẫm máu.

“Con gái tôi đã bị vỡ ối rồi mà đứa bé không ra được,” Mariam gào lên.

“Tôi đang nói chuyện với bà ấy!” người phụ nữ trẻ mình đầy máu kêu lên. “Hãy đợi đến lượt của bà!”

Đám đông dạt từ bên này sang bên kia, giống như đám cỏ cao mọc quanh kolba khi có cơn gió thổi qua bãi đất trống. Một người phụ nữ sau lưng Mariam hét lên rằng con gái bà bị gãy khuỷu tay do ngã từ trên cây xuống. Một người phụ nữ khác thì la lên rằng cô ấy đang chảy rất nhiều máu.

“Cô ấy có bị sốt không?” bà y tá hỏi. Phải mất một lúc Mariam mới hiểu rằng bà ấy đang nói chuyện với mình.

“Không,” cô trả lời.

“Có chảy máu không?”

“Không.”

“Cô ấy đâu?”

Mariam chỉ qua những cái đầu nhấp nhô chỗ Laila đang ngồi với Rasheed.

Y tá nói, “Chúng tôi sẽ đến chỗ cô ấy.”

“Bao lâu nữa?” Mariam kêu lên. Có ai đó chộp lấy vai cô và kéo cô lại.

Bà y tá nói, “Tôi cũng chưa biết.” Bà nói họ chỉ có hai bác sĩ và vào lúc này, cả hai đều đang tiến hành phẫu thuật.

Mariam lại nói, “Nhưng con bé đang đau.”

“Tôi cũng thế!” người phụ nữ bị chảy máu đầu gào lên. “Hãy đợi đến lượt bà!”

Mariam bị lôi về phía sau. Giờ đây bà y tá đã bị che lấp bởi vai và đầu của những người khác. Cô ngửi thấy mùi ợ sữa của trẻ con.

“Hãy dắt cô ấy đi bộ,” người y tá la lên. “Và đợi.”

—★—

Khi cuối cùng một y tá gọi họ vào thì trời đã tối. Phòng hộ sinh có tám giường, trên đó những người phụ nữ nằm rên rỉ và quằn quại đang được các nữ hộ sinh trong trang phục che kín người chăm sóc. Hai người phụ nữ đang sinh. Không có rèm che giữa các giường. Laila được xếp vào giường trong cùng, dưới một ô cửa sổ sơn đen. Gần đó có một cái bồn rửa, đã bị rạn nứt và khô cong, có một cái dây vắt ngang để treo găng tay phẫu thuật bẩn. Ở giữa phòng, Mariam nhìn thấy một cái bàn nhôm. Ngăn trên cùng có một cái chăn màu bồ hóng, ngăn cuối cùng thì trống rỗng.

Một phụ nữ nhận thấy Mariam đang nhìn.

“Họ đặt những đứa còn sống ở trên cùng,” cô ta nói một cách mệt mỏi.

Bà bác sĩ mặc burqa màu xanh đậm là một phụ nữ nhỏ bé, dáng vội vã với những chuyển động như chim. Mọi điều bà nói ra đều nghe có vẻ sốt ruột, khẩn cấp.

“Con so.” Bà nói như thể đó không phải một câu hỏi mà là một lời khẳng định.

“Đứa thứ hai,” Mariam trả lời.

Laila kêu lên một tiếng và co người lại. Những ngón tay cô bám chặt vào tay Mariam.

“Có vấn đề gì xảy ra trong lần sinh đầu hay không?”

“Không.”

“Bà là mẹ?”

“Vâng,” Mariam trả lời.

Bác sĩ nâng nửa dưới tấm áo choàng lên và lấy ra một đồ khám bằng kim loại có hình nón. Bà nâng cái áo của Laila lên và đặt đầu rộng của thiết bị ấy vào bụng cô, còn đầu hẹp để lên tai mình. Bà nghe khoảng gần một phút, thay đổi các vị trí và nghe lại, rồi lại chuyển sang vị trí khác.

“Bây giờ tôi phải sờ vào đứa bé, hamshira.”

Bà đeo một cái găng tay được kẹp trên cái bồn rửa. Bà ấn một tay vào bụng Laila còn tay kia thì luồn vào bên trong. Laila rên lên. Khi bác sĩ đã làm xong, bà đưa găng tay cho một y tá giũ ra và kẹp lại dây.

“Con gái bà cần phải được mổ. Bà có biết đó là gì không? Chúng tôi phải mổ dạ con của cô ấy để lấy đứa bé ra, bởi vì cái thai bị ngược.”

“Tôi không hiểu,” Mariam nói.

Bác sĩ nói đứa bé nằm ở tư thế như vậy sẽ không tự ra được. “Chúng ta đã mất quá nhiều thời gian rồi. Giờ cần phải đi đến phòng mổ ngay.”

Laila gật đầu nhăn nhó, đầu cô rũ sang một bên.

“Có một số việc tôi cần phải trao đổi với bà,” bác sĩ nói. Bà lại gần Mariam hơn, nghiêng người và nói bằng giọng nhỏ nhẹ hơn, kín đáo hơn. Bây giờ có một chút gì đó ngại ngùng trong giọng nói của bà.

“Bà ấy nói gì vậy?” Laila rên rỉ. “Có gì xảy ra với đứa bé hay sao?”

“Nhưng làm thế nào mà con bé chịu đựng được điều đó?” Mariam nói.

Từ sự thay đổi mang tính chất che chở trong giọng nói của Mariam, bác sĩ hẳn phải thấy sự buộc tội trong câu hỏi này.

“Bà nghĩ tôi muốn điều này hay sao?” bác sĩ nói. “Bà muốn tôi phải làm gì? Họ không cung cấp cho tôi những thứ tôi cần. Tôi cũng không có máy chụp X-quang, không ống hút, không có bình ô xy, thậm chí đơn giản là thuốc kháng sinh cũng không có. Khi các tổ chức phi chính phủ đề nghị trợ cấp tiền thì Taliban lại từ chối hoặc rót số tiền đó đến những nơi phục vụ đàn ông.”

“Nhưng thưa bác sĩ, bác sĩ không thể cho con bé thứ gì ư?” Mariam hỏi.

Laila rên lên, “Chuyện gì đang xảy ra vậy?”

“Bà có thể tự đi mua thuốc, nhưng…”

“Hãy viết tên thuốc ra,” Mariam nói. “Bác sĩ cứ viết tên thuốc ra là tôi sẽ đi mua ngay.”

Dưới tấm khăn trùm mặt, bác sĩ lắc đầu. “Không còn thời gian nữa,” bà nói. “Và một điều nữa, không một hiệu thuốc nào gần đây bán thuốc đó cả. Vì thế bà sẽ phải đi xa hơn, đến hỏi từng hiệu thuốc, có thể phải tìm khắp thành phố mới có khả năng mua được thuốc đó. Bây giờ đã gần tám giờ rưỡi rồi, vì vậy có thể bà sẽ bị bắt vì vi phạm lệnh giới nghiêm. Thậm chí nếu như tìm thấy thuốc thì có thể bà không đủ tiền để mua đâu. Hoặc cũng có thể bà sẽ bị kéo vào một cuộc tranh giành với một ai đó cũng đang cùng quẫn như bà. Không còn thời gian nữa đâu. Đứa bé cần được ra ngay bây giờ.”

“Hãy cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra!” Laila nói. Cô chống tay nâng người dậy.

Bác sĩ hít một hơi dài rồi nói với Laila rằng bệnh viện không có thuốc gây mê.

“Nhưng nếu chúng tôi chậm trễ, chị sẽ mất đứa bé.”

“Vậy hãy mổ cho tôi,” Laila nói. Cô thả người xuống giường và co gối lên. “Hãy mổ bụng tôi và lấy đứa bé ra.”

—★—

Trong phòng mổ cũ kỹ và bẩn thỉu, Laila nằm trên một cái giường cáng trong khi bà bác sĩ rửa tay trong chậu. Laila đang run rẩy. Cô hít không khí qua kẽ răng mỗi khi người y tá lau bụng cô bằng một miếng vải nhúng trong một thứ chất lỏng màu vàng nâu. Một y tá khác đứng ở cửa. Cô giữ cửa mở he hé để lén nhìn ra ngoài.

Giờ bác sĩ đã cởi chiếc burqa ra, Mariam thấy đỉnh đầu bà đã lốm đốm hoa râm, mí mắt nặng trĩu và vẻ mệt mỏi hằn lên ở khóe miệng bà.

“Họ muốn chúng tôi phải mặc áo choàng trong khi phẫu thuật,” bác sĩ giải thích và hất đầu về phía cô y tá đang đứng cạnh cửa. “Cô ấy phải trông chừng. Nếu cô ấy thấy họ đến, tôi sẽ choàng áo vào.”

Bà nói điều này bằng giọng ngoan cố gần như thờ ơ, và Mariam hiểu rằng người người phụ nữ này đã từng phải trải qua nhiều lần bị xúc phạm. Cô nghĩ, đây là một người phụ nữ hiểu được rằng mình thật may mắn khi vẫn được làm việc, rằng luôn luôn có những thứ, những thứ khác mà người ta có thể tước đi.

Có hai thanh kim loại được đặt dọc theo vai của Laila. Cô y tá, người đã lau bụng cho Laila, dùng những cái kẹp để kẹp một tấm khăn phủ lên đó. Nó tạo thành tấm rèm giữa Laila và bác sĩ.

Mariam đứng ngay sau đỉnh đầu của Laila và ghé sát mặt xuống để má họ chạm vào nhau. Cô có thể cảm thấy hàm răng của Laila đang va vào nhau lách cách. Bàn tay họ lồng vào nhau.

Qua bức rèm, Mariam nhìn thấy bóng bác sĩ di chuyển về phía bên trái của Laila, cô y tá thì chuyển sang bên phải. Môi Laila căng ra hết sức. Bọt sùi ra qua hàm răng nghiến chặt. Cô bật lên những tiếng rên nhỏ và gấp gáp.

Bác sĩ nói, “Can đảm nhé, em gái.”

Bà cúi xuống Laila.

Mắt Laila trợn ngược. Rồi miệng há hốc ra. Cô cứ như vậy, run rẩy, gân cổ căng ra, mồ hôi trên mặt nhỏ ròng ròng, những ngón bấu chặt tay của Mariam.

Mariam luôn luôn khâm phục Laila về ngần ấy thời gian cô đã cố gắng chịu đựng trước khi cô hét lên.

—

Laila

MÙA THU NĂM 1999

Mariam là người đưa ra ý tưởng đào hố. Một sáng, bà chỉ vào đám đất đằng sau kho dụng cụ và nói, “Chúng ta có thể đào ở đây. Đây là một vị trí tốt.”

Họ thay phiên nhau dùng xẻng đào đất, rồi hót lớp đất tơi sang một bên. Họ không dự định đào một cái hố to, hay một cái hố sâu, vì thế công việc hóa ra lại nhọc nhằn hơn nhiều so với họ nghĩ. Chính đợt hạn hán bắt đầu từ năm 1998, đến năm nay là năm thứ hai, đã tàn phá khắp mọi nơi. Mùa đông năm trước hầu như không có tuyết rơi và không có trận mưa nào suốt cả mùa xuân năm ấy. Nông dân trên khắp đất nước phải bỏ lại những mảnh đất khô nẻ của mình, bán hết hàng hóa, lang thang từ làng này sang làng khác để tìm nước. Họ chuyển đến Pakistan hoặc Iran. Họ định cư ở Kabul. Nhưng những mạch nước trong thành phố cũng rất sâu và những giếng nước nông cũng cạn khô rồi. Ở những giếng sâu có nước thì đoàn người xếp hàng dài dằng dặc, Laila và Mariam phải đợi nhiều tiếng đồng hồ mới tới lượt mình. Sông Kabul đã trơ cả đáy vì không có lũ đầu mùa xuân. Giờ đây nó đã trở thành một cái nhà vệ sinh công cộng, không có gì trong đó ngoài đá cuội và rác thải của con người.

Vì vậy họ vẫn tiếp tục đào, nhưng mặt đất đã trở nên cứng như đá, lóp bụi cứ tích tụ lại, nén chặt vào nhau, gần như hóa đá.

Giờ Mariam đã bốn mươi rồi. Mái tóc quấn trên đầu đã lốm đốm một vài sợi bạc. Mọng mắt đã võng xuống, thâm lại và tạo thành hình lưỡi liềm. Hai chiếc răng cửa đã mất. Một cái do bị ngã, cái kia do Rasheed đánh bay khi bà lỡ tay để rơi bé Zalmai. Da bà trở nên thô hơn và sạm đen đi vì những lúc họ ngồi ngoài sân dưới ánh mặt trời chói chang. Họ ngồi nhìn Zalmai đuổi bắt Aziza.

Khi công việc đã hoàn thành, cái hố đã đào xong, họ đứng ở trên nhìn xuống.

“Thế này chắc là được đấy,” Mariam nói.

—★—

Giờ Zalmai đã lên hai. Nó là cậu bé tóc quăn bụ bẫm. Nó có đôi mắt nhỏ màu nâu và dù thời tiết thế nào đi nữa thì hai cái má của nó lúc nào cũng hồng hồng giống Rasheed. Thằng bé cũng có một đường tóc dày và cong hình nửa vầng trăng trên trán giống bố.

Khi ở một mình với Laila, Zalmai rất ngoan, vui vẻ và ham chơi. Thằng bé thích trèo lên vai Laila và chơi trốn tìm với cô cùng Aziza ở trong sân. Thỉnh thoảng, lúc bớt hiếu động hơn, nó thích ngồi trong lòng Laila và bắt cô hát cho nghe. Bài hát yêu thích của nó là “Mullah Mohammad Jan”. Khi cô hát và hôn lên mái tóc xoăn của nó, nó đu đưa đôi chân nhỏ mũm mĩm và khi cô hát đến đoạn điệp khúc, nó cũng tham gia bằng những từ có thể phát âm được với cái giọng the thé của mình:

Hãy đến đây rồi đi Mazar, Mullah Mohammad thân mến,

Để được ngắm những cánh đồng hoa tuy líp, ơi người bạn đồng hành đáng yêu.

Laila yêu những nụ hôn ướt ướt mà Zalmai đặt lên má cô, yêu khuỷu tay có ngấn và ngón chân út mũm mĩm của nó. Cô thích cù thằng bé, thích xây những đường hầm bằng đệm và gối để nó bò qua, thích ngắm nó ngủ trong lòng với một tay luôn nắm chặt tai cô. Lòng cô quặn lại khi nghĩ về buổi chiều hôm đó, khi nằm trên sàn nhà với cái nan hoa xe đạp giữa đôi chân mình. Suýt chút nữa thôi cô đã làm như vậy rồi. Giờ đây cô không thể nghĩ được rằng cô đã từng có lúc ấp ủ cái ý định ấy. Con trai cô là một phước lành và Laila cảm thấy thật thanh thản khi nhận ra rằng nỗi sợ hãi của mình rõ ràng là không có căn cứ, rằng cô yêu Zalmai đến từng tế bào của mình, cũng giống như cô yêu Aziza vậy.

Nhưng Zalmai thì tôn sùng bố mình, và vì vậy nên nó thay đổi hẳn khi bố nó ở cạnh cưng chiều nó. Rồi nó sẽ nở một nụ cười ngang ngạnh hoặc hỗn xược. Cứ khi nào có mặt bố là thằng bé rất dễ sinh hư. Nó hay bực tức. Nó cứ làm nghịch dại mặc cho Laila rầy la, điều mà nó không bao giờ làm khi Rasheed đi vắng.

Rasheed ủng hộ tất cả những trò đó của nó. “Đó là dấu hiệu của sự thông minh,” ông ta nói. Ông ta cũng nói như vậy về sự liều lĩnh của Zalmai khi nó ngậm những viên bi rồi phì ra; khi nó nghịch diêm; khi nó nhai thuốc lá của bố nó.

Khi Zalmai được sinh ra, Rasheed chuyển thằng bé vào trong giường của ông ta và Laila. Ông ta mua cho nó một cái giường cũi mới, trên thành có sơn hình sư tử và những con báo đang nép mình. Ông ta mua quần áo mới, lúc lắc mới, chai mới, tã lót mới, mặc dù họ không có điều kiện và những đồ cũ của Aziza thì vẫn còn dùng được. Một hôm, ông ta về nhà với một món đồ chơi chạy bằng pin và treo nó lên cũi của Zalmai. Những chú ong nghệ màu vàng đen buông xuống từ một bông hoa hướng dương, chúng rúm lại, kêu chút chít mỗi khi bị bóp vào. Khi bật nó lên thì một bản nhạc được phát ra.

“Tôi tưởng ông nói việc kinh doanh đang ế ẩm,” Laila nói.

“Tôi có những người bạn có thể cho tôi,” ông ta trả lời bừa.

“Rồi thì làm sao mà trả cho người ta?”

“Mọi thứ rồi cũng ổn thôi. Luôn là như vậy mà. Nhìn kìa, thằng bé thích nó. Thấy không?”

Hầu như ngày nào cũng thế, Laila đều không được gần con trai. Rasheed đưa thằng bé đi đến cửa hàng, để nó bò xung quanh dưới gầm bàn làm việc chật chột, chơi với những đế giày cao su cũ và những miếng da thừa. Rasheed vừa đóng những chiếc đinh sắt nhỏ, quay cái bánh mài và vừa để mắt trông chừng thằng bé. Nếu Zalmai làm đổ giá để giày, Rasheed chỉ trách mắng nhẹ nhàng, với nụ cười mỉm điềm tĩnh. Nếu như thằng bé tái phạm, Rasheed sẽ đặt búa xuống, bế nó lên bàn làm việc của ông ta và nói với nó một cách dịu dàng.

Sự kiên nhẫn của ông ta với Zalmai giống như một cái giếng sâu, không bao giờ khô cạn.

Họ cùng nhau trở về nhà vào buổi tối, đầu Zalmai gục vào vai của Rasheed, cả hai đều bốc mùi hồ và da thuộc. Họ tinh quái cười với nhau theo cách của những người có chung một bí mật, như thể cả ngày họ ngồi trong cái cửa hàng giày tối mờ đó không phải để làm ra những đôi giày, mà là để vạch ra những mưu đồ bí mật. Vào bữa tối Zalmai thích ngồi bên cạnh bố nó, chơi những trò chơi của riêng hai người, trong khi Mariam, Laila và Aziza dọn đồ ăn lên sofrah. Hai bố con thay phiên chọc lét vào ngực nhau, cười rúc rích, ném những mẩu vụn bánh mì vào nhau, thì thầm những điều mà người khác không thể nào nghe thấy được. Nếu Laila chen ngang vào thì Rasheed nhìn cô với vẻ khó chịu. Nếu như cô muốn bế Zalmai hoặc tệ hơn, nếu Zalmai đòi cô, Rasheed sẽ trừng mắt nhìn cô.

Laila bỏ đi với cảm giác đau nhói.

—★—

Rồi một đêm, vài tuần sau khi Zalmai tròn hai tuổi, Rasheed về nhà với một cái ti vi và một đầu video. Ngày hôm đó, trời ấm áp và khá dễ chịu, nhưng buổi tối thì lạnh hơn và đến đêm thì trời buốt giá và không có sao.

Ông ta đặt nó lên cái bàn trong phòng khách. Ông ta nói đã mua nó ở chợ đen.

“Ông lại vay à?” Laila hỏi. “Cái này hiệu Magnavox đấy.”

Aziza bước vào phòng. Khi nhìn thấy ti vi, cô bé chạy lại gần.

“Cẩn thận đấy Aziza bé bỏng,” Mariam nói. “Đừng có chạm vào đó.”

Tóc của Aziza đã chuyển sang màu sáng như tóc của Laila. Laila có thể nhìn thấy lúm đồng tiền của cô trên má con bé. Aziza đã trở thành một bé gái chững chạc và biết suy nghĩ với cách cư xử mà Laila thấy dường như vượt xa tuổi lên sáu của nó. Laila ngạc nhiên trước cách nói chuyện của con gái mình, sự nhịp nhàng và uyển chuyển, những âm điệu và những khoảng dừng suy tư, thật người lớn, thật kỳ lạ khi trong cơ thể non nớt ấy lại có một giọng nói như vậy. Đó chính là Aziza với vẻ quyền hành đáng yêu khi tự cho mình trách nhiệm phải đánh thức Zalmai mỗi ngày, mặc quần áo, cho em ăn sáng và chải tóc cho em. Con bé là người ru em vào giấc ngủ, là người đóng vai trò như một sứ giả hòa bình điềm đạm với thằng em tính khí thất thường. Ở cạnh thằng bé, Aziza đã quen có cái kiểu lắc đầu rất người lớn và nghiêm khắc.

Aziza nhấn nút nguồn ti vi. Rasheed nổi cáu, túm lấy cổ tay con bé đặt lên bàn, không một chút nhẹ nhàng.

“Đây là ti vi của Zalmai,” ông ta nói.

Aziza đến bên Mariam và trèo vào lòng bà. Hai người giờ đây không thể tách rời nhau. Gần đây, Mariam bắt đầu dạy Aziza những bài thơ trong kinh Koran, điều này khiến Laila cảm thấy rất vui. Aziza đã có thể đọc thuộc lòng các chương ikhlas, fatiha, biết cách thực hiện bốn ruqat của lễ cầu nguyện buổi sáng.

Đó là tất cả những gì tôi có để cho con bé, Mariam nói với Laila, kiến thức này, những lời cầu nguyện này. Chúng là tài sản duy nhất mà tôi thực sự có.

Giờ Zalmai vào trong phòng. Trước cái nhìn chờ đợi của Rasheed, giống như cái cách mà người ta chờ đợi những trò ảo thuật đơn giản của một ảo thuật gia đường phố, Zalmai giật dây ti vi, nhấn những cái nút, ấn hai lòng bàn tay vào cái màn hình trống. Khi nó nhấc tay ra, hình lòng bàn tay ẩm mờ dần trên mặt kính. Rasheed mỉm cười tự hào, nhìn Zalmai tiếp tục ấn lòng bàn tay rồi lại nhấc ra, hết lần này đến lần khác.

Taliban đã cấm xem ti vi. Băng ghi hình bị chọc thủng trước mặt người dân, ruột băng bị rút ra và lẳng lên các bờ rào. Chảo ăng ten bị treo trên các cột đèn. Nhưng Rasheed nói không phải vì bị cấm mà ông ta không mò ra được.

“Ngày mai tôi sẽ tìm một vài băng hoạt hình,” ông ta nói. “Không khó đâu. Ta có thể mua bất cứ thứ gì ở chợ đen.”

“Thế thì có lẽ ông sẽ mua cho chúng ta một cái giếng mới,” Laila nói và rồi nhận được cái nhìn đầy khinh miệt từ ông ta.

Rồi sau đó, khi kết thúc một bữa tối khác, lại với cơm trắng và không có nước trà do hạn hán, Rasheed hút một điếu thuốc rồi nói với Laila về quyết định của mình.

“Không,” Laila nói.

Ông ta nói rằng không phải ông ta đang hỏi ý kiến.

“Tôi không quan tâm có phải ông đang hỏi hay không.”

“Cô sẽ quan tâm đấy nếu như cô biết toàn bộ câu chuyện.”

Ông ta nói đã mượn tiền của nhiều người hơn so với số người ông ta nói, rằng chỉ khoản tiền kiếm được từ cửa hàng không còn đủ để duy trì cuộc sống của năm người. “Tôi đã không nói sớm vì không muốn cô lo lắng.”

“Bên cạnh đó,” ông ta nói, “cô sẽ ngạc nhiên về những thứ mà họ có thể mang lại cho chúng ta.”

Laila lại nói không. Họ đang ở trong phòng khách. Mariam và bọn trẻ thì ở trong bếp. Laila có thể nghe thấy tiếng bát đĩa lách cách, tiếng cười lanh lảnh của Zalmai và giọng Aziza nói với Mariam đều đều và dịu dàng.

“Có những đứa khác cũng như nó, thậm chí còn bé hơn,” Rasheed nói. “Mọi người ở Kabul đều làm như vậy.”

Laila nói với ông ta rằng cô không quan tâm người khác làm gì với con cái họ.

“Tôi sẽ để ý đến con bé,” Rasheed nói, bây giờ thì sốt ruột hơn. “Đó là một chỗ an toàn. Có một nhà thờ bên kia phố.”

“Tôi sẽ không để cho ông biến con gái tôi trở thành đứa ăn mày!” Laila vặc lại.

Cái tát gây ra một tiếng động lớn, lòng bàn tay với những ngón tay to khỏe của ông ta giáng thẳng vào gò má Laila. Nó khiến cho đầu cô ngật về đằng sau. Những tiếng ồn ào trong bếp bỗng im bặt. Trong chốc lát, ngôi nhà yên tĩnh tuyệt đối. Rồi có tiếng bước chân vội vã trên hành lang trước khi Mariam và lũ trẻ có mặt trong phòng khách, ánh mắt của họ chuyển từ cô sang Rasheed rồi ngược lại.

Rồi Laila đấm mạnh vào ông ta.

Đó là lần đầu tiên cô đánh người khác, không tính đến những cú đấm đùa cô và Tariq từng dành cho nhau. Nhưng đó là những cái vỗ nhẹ chứ không phải cú đấm, là một cách thể hiện hết sức thoải mái và thân thiện cho những ước ao khiến họ vừa hồi hộp lại vừa bối rối. Chúng nhằm vào những cơ bắp mà Tariq, bằng giọng điệu của một chuyên gia, gọi là cơ delta.

Laila nhìn năm tay cô vung lên, sượt qua không khí, dưới đốt ngón tay, cô cảm nhận được những nếp nhăn trên làn da thô ráp của Rasheed. Nó tạo thành thứ âm thanh giống như ai đó làm rơi túi gạo xuống sàn nhà. Cô đã đấm ông ta rất mạnh. Sức mạnh của nó thực sự đã làm cho ông ta lảo đảo lùi về đằng sau hai bước.

Ở phía bên kia căn phòng, có tiếng thở hổn hển, tiếng kêu và tiếng la thất thanh. Laila không biết người nào đã thốt ra tiếng kêu nào. Lúc này, cô sững sờ đến nỗi không còn chú ý hay quan tâm đến điều gì nữa, đợi cho tâm trí bắt kịp với những gì mà tay cô đã làm. Khi định thần lại, cô tin rằng cô có thể đã mỉm cười. Có thể cô đã cười to khi Rasheed lầm lũi đi ra khỏi phòng trước sự kinh ngạc của cô.

Bỗng nhiên, Laila thấy những khốn khó chất chồng trong cuộc sống của họ – của cô, của Aziza, của Mariam – đã biến mất, đã bốc hơi như những dấu bàn tay của Zalmai trên màn hình ti vi. Dù có phần phi lý, nhưng dường như tất cả những sự chịu đựng của họ đều là xứng đáng để mà có được một giây phút huy hoàng này, để có hành động phản kháng này, hành động có thể sẽ chấm dứt tất cả sự nhục nhã mà họ đã phải chịu đựng.

Laila không để ý rằng Rasheed đã quay trở lại phòng. Cho đến khi bàn tay ông ta túm lấy cổ cô. Cho đến khi cô bị nhấc bổng lên và bị ném phịch vào tường.

Ở khoảng cách thật gần, gương mặt nhạo báng của ông ta dường như nở rộng ra đến mức phi lý. Laila để ý thấy mặt ông ta đang trở nên húp híp hơn với dấu ấn của tuổi tác và trên mũi có nhiều nếp nhăn hơn. Rasheed không nói gì cả. Và thực ra có thể nói gì đây, cần phải nói gì đây khi người ta gí họng súng vào miệng vợ mình.

—★—

Chính những cuộc khám xét bất ngờ là lý do khiến họ phải ở trong sân để đào hố. Những cuộc khám xét đôi khi theo tháng, đôi khi theo tuần. Hoặc gần đây hầu như ngày nào cũng có. Thường thì Taliban tịch thu tài sản, đá đít người ta hoặc vụt một hai cái vào sau gáy. Nhưng đôi khi họ đánh đập hoặc quất vào lòng bàn tay, bàn chân một cách công khai.

“Nhẹ nhàng thôi,” Mariam nói, đầu gối bà quỳ sát miệng hố. Họ hạ cái ti vi xuống hố, mỗi người cầm một đầu tấm ni lông bọc cái ti vi.

“Thế là xong,” Mariam nói.

Họ đập đất cho bằng phẳng lại sau khi đã lấp cái hố. Họ tung một ít đất xung quanh để trông không có vẻ đáng nghi.

“Xong,” Mariam nói và phủi tay vào váy.

Họ đã đồng ý với nhau là khi tình hình trở nên an toàn hơn, khi Taliban giảm những cuộc đột kích bất ngờ, sau một tháng, hai tháng, sáu tháng, hoặc có thể lâu hơn nữa, họ sẽ đào để lấy ti vi lên.

—★—

Trong giấc mơ của Laila, cô và Mariam đang ở bên ngoài phía sau kho dụng cụ và lại đang đào. Nhưng lần này, họ đang chôn Aziza. Hơi thở của Aziza làm mờ tấm ni lông họ dùng để bọc con bé. Laila nhìn thấy đôi mắt hoảng sợ của con bé, bàn tay trắng nhợt của nó đang đập và ấn vào tấm ni lông. Aziza van xin. Laila không thể nghe thấy tiếng con bé la hét. Chỉ một lát thôi, cô nói vọng xuống, chỉ một lát thôi. Người ta đang khám xét, con biết không, con yêu? Khi cuộc khám xét kết thúc, mẹ và Khala Mariam sẽ đào con lên. Mẹ hứa đấy, con yêu. Rồi sau đó chúng ta sẽ cùng chơi. Chúng ta sẽ chơi thật thỏa thích. Cô lấy xẻng gạt đất. Thế rồi cô bừng tỉnh, không thở được, vẫn còn cảm thấy mùi đất trong miệng mình khi những xẻng đất đầu tiên chạm vào tấm ni lông.

—

Mariam

Mùa hè năm 2000, hạn hán tiếp tục kéo dài sang năm thứ ba và là năm tồi tệ nhất.

Ở Helmand, Zabol, Kandahar, dân từ các làng mạc lập thành các cộng đồng di cư, nay đây mai đó, họ luôn dịch chuyển để tìm kiếm những nơi có nước và các đồng cỏ xanh để chăn thả vật nuôi. Khi không tìm thấy được gì, khi dê, cừu và bò của họ đã chết, họ tới Kabul. Họ tới sườn đồi Kareh-Ariana, sống trong các khu ổ chuột tạm bợ, chen chúc trong các túp lều, mỗi lều từ mười lăm đến hai mươi người.

Đó cũng là mùa hè của phim Titanic, mùa hè mà Mariam và Aziza luôn quấn quýt bên nhau, vật nhau và cười khúc khích, Aziza khăng khăng nhận mình là Jack.

“Yên lặng nào, Aziza.”

“Hãy gọi con là Jack, Khala Mariam. Gọi đi. Jack!”

“Bố con sẽ nổi giận nếu con làm ông ấy tỉnh giấc.”

“Jack! Còn bác là Rose.”

Cuối cùng Mariam nằm ngửa, đầu hàng, lại đồng ý làm Rose. “Được rồi, con là Jack,” bà dịu giọng hơn. “Con chết trẻ, và ta sẽ sống đến già lụ khụ.”

“Đúng vậy, nhưng anh chết như một anh hùng,” Aziza nói, “trong khi đó, em, Rose ạ, em phải sống cả đời đau khổ nhớ thương anh.” Rồi nó đứng giạng chân qua ngực Mariam và tuyên bố, “Bây giờ thì chúng mình phải hôn nhau!” Mariam lắc đầu, còn Aziza thì rất phấn khích với hành động nổi loạn của mình, cười khúc khích một cách vui sướng.

Thỉnh thoảng Zalmai cũng tới xem trò chơi này. Nó hỏi xem nó có thể trở thành nhân vật gì.

“Em có thể là tảng băng,” Aziza trả lời.

Mùa hè năm ấy, cơn sốt phim Titanic lan rộng ở Kabul. Người ta lén lút mang những bản phim lậu từ Pakistan sang – đôi khi còn giấu trong đồ lót. Khi thời gian giới nghiêm đến, mọi người khóa cửa, tắt đèn, vặn nhỏ âm lượng và bắt đầu khóc thương cho Jack, Rose và những hành khách gặp nạn trên con tàu chìm đó. Nếu có điện, Mariam, Laila và lũ trẻ cũng xem. Rất nhiều lần, vào đêm khuya, họ đào cái ti vi từ phía sau nhà dụng cụ lên, tắt đèn đi và lấy chăn che lên các cửa sổ.

Trên sông Kabul, những người bán hàng rong đã chuyển xuống dựng hàng quán ở lòng sông nứt nẻ. Chẳng bao lâu, cứ đến đó là người ta có thể mua được những tấm thảm Titanic và quần áo Titanic trên những chiếc xe đẩy hàng nhỏ. Có cả chất khử mùi Titanic, kem đánh răng Titanic, nước hoa Titanic, pakorah* Titanic, thậm chí cả những chiếc burqa Titanic. Một người ăn xin đặc biệt cứ khăng khăng tự gọi mình là “Hành khất Titanic”.

“Thành phố Titanic” ra đời.

Đấy là bài hát, họ nói.

Không, là biển cả. Là sự sang trọng. Là con tàu.

Đó là tình yêu, họ thì thầm.

Leo, Aziza bẽn lẽn nói. Tất cả là về Leo.

“Mọi người đều muốn Jack,” Laila nói với Mariam. “Đó là sự thật. Mọi người muốn Jack cứu họ khỏi thảm họa. Nhưng không thấy Jack đâu cả. Jack không quay lại. Jack đã chết.”

—★—

Rồi hè năm ấy, một thương nhân buôn vải đã ngủ quên không dập thuốc lá. Ông ta thoát khỏi đám cháy, nhưng cửa hàng của ông ta thì không. Ngọn lửa còn thiêu rụi cửa hàng vải bên cạnh, một cửa hàng quần áo cũ, một cửa hàng nội thất nhỏ và một tiệm bánh.

Sau đó, họ nói với Rasheed rằng nếu cơn gió thổi hướng Đông thay vì hướng Tây thì cửa hàng của ông ta ở góc đường có thể đã bình an vô sự.

—★—

Họ đã bán mọi thứ.

Đầu tiên là đồ đạc của Mariam, rồi sau đó là của Laila. Quần áo con nít của Aziza, một vài thứ đồ chơi mà Laila đã đòi Rasheed phải mua cho con bé. Aziza quan sát quá trình đó với cái nhìn thờ ơ. Đồng hồ của Rasheed cũng đã bị bán, rồi chiếc đài bán dẫn cũ, đôi cà vạt, giày và nhẫn cưới của ông ta cũng vậy. Giường, bàn, thảm và những chiếc ghế cũng đã bị bán. Zalmai lên cơn giận dỗi khi Rasheed bán luôn cái ti vi.

Sau đám cháy, Rasheed ở nhà hầu như cả ngày. Ông ta tát Aziza. Ông ta đánh Mariam. Ông ta ném hết các thứ đi. Ông ta moi móc các lỗi của Laila, từ mùi cơ thể cô, từ cách cô ăn mặc, cách cô chải tóc và cả những chiếc răng xỉn vàng của cô nữa.

“Chuyện gì xảy ra với cô vậy?” ông ta nói. “Tôi đã cưới một pari*, và bây giờ tôi đang phải chịu đựng một mụ phù thủy. Cô đang dần biến thành Mariam.”

Rasheed bị đuổi việc khỏi quán thịt nướng gần quảng trường Haji Yaghoub vì ẩu đả với một khách hàng. Vị khách này phàn nàn rằng Rasheed đã quẳng cái bánh mì lên bàn ông ta một cách thô lỗ. Những lời khó nghe được thốt ra. Rasheed gọi vị khách hàng là đồ Uzbek mặt khỉ. Một khẩu súng được rút ra. Một cái xiên thịt cũng được chĩa ra để đáp lại. Theo tường thuật lại của Rasheed thì ông ta đã cầm cái xiên thịt. Mariam nghi ngờ điều đó.

Rasheed lại bị đuổi việc khỏi một cửa hàng khác ở Taimani vì khách hàng than vãn về việc phải chờ lâu, Rasheed biện minh rằng đó là do đầu bếp nhà hàng chậm chạp và lười biếng.

“Có lẽ ông đã ra đằng sau ngủ cũng nên,” Laila nói.

“Đừng có khiêu khích ông ấy, Laila thân mến,” Mariam nói.

“Tôi cảnh cáo cô, đồ đàn bà,” ông ta nói.

“Hoặc thế hoặc ông trốn đi hút thuốc.”

“Tôi thề có Thượng đế.”

“Ông thì mãi mãi cũng chẳng khác đi được.”

Vậy là ông ta lao vào Laila, đấm túi bụi vào ngực, vào đầu, vào bụng cô, giật tóc cô, quăng cô vào tường. Aziza la hét inh ỏi, kéo áo ông ta; Zalmai cũng gào thét, cố gắng kéo ông ta ra khỏi mẹ nó. Rasheed xô bọn trẻ sang một bên, đẩy Laila ngã xuống đất và bắt đầu đá cô. Mariam lao mình lên người Laila. Ông ta vẫn tiếp tục đá, bây giờ là đá Mariam, nước dãi bắn ra khỏi miệng, mắt hừng hực sát khí, và ông ta đá cho đến khi không còn đủ sức nữa.

“Tao thề là mày sẽ khiến tao phải giết mày, Laila ạ,” ông ta vừa nói vừa thở hổn hển. Sau đó ông ta lao ra khỏi nhà.

—★—

Khi tiền đã hết, cơn đói bắt đầu phủ tấm vải liệm lên cuộc đời của họ. Chính Mariam cũng cảm thấy sửng sốt khi xoa dịu cơn đói lại nhanh chóng trở thành vấn đề sống còn của họ đến như vậy.

Cơm trắng, không có thịt hay nước xốt, bây giờ cũng khó kiếm. Họ bỏ bữa một cách thường xuyên hơn và đến mức đáng báo động. Thỉnh thoảng Rasheed mang về nhà một ít cá mòi hộp và bánh mì khô có vị giống như mùn cưa. Đôi khi, ông ta ăn trộm cả những túi táo, bất chấp việc đó có thể khiến ông ta bị cưa tay. Ông ta cẩn thận móc trộm hộp bánh bao ở cửa hàng tạp hóa, đem về nhà và chia thành năm phần, Zalmai được phần nhiều nhất. Họ ăn củ cải sống rắc muối. Bữa tối có lá rau diếp héo úa và những quả chuối thâm.

Chết đói bỗng nhiên trở thành một nguy cơ hiển hiện. Một vài người đã chọn cách không đợi chờ nó. Mariam nghe nói một góa phụ ở gần nhà đã nghiền bánh mì khô, trộn thêm thuốc chuột và cho cả bảy đứa con bà ta ăn. Bà để dành phần nhiều nhất cho mình.

Xương sườn của Aziza bắt đầu trơ ra, hai má của con bé tóp lại. Bắp chân nó gầy rộc, da chuyển sang màu lá chè héo. Khi Mariam nhấc nó lên, bà có thể cảm nhận được xương hông của nó chọc qua làn da mỏng manh. Zalmai nằm vạ vật khắp nhà, mắt lờ đờ, lim dim, hoặc có khi nó nằm trong lòng bố, ủ rũ như một miếng giẻ rách. Nó cố ru mình vào giấc ngủ để lấy lại sức lực nhưng giấc ngủ của nó cứ chập chờn và rời rạc. Những đốm trắng cứ nhảy nhót trước mắt mỗi khi Mariam thức dậy. Đầu bà quay cuồng, tai lúc nào cũng ong ong. Bà nhớ điều mà Giáo sĩ Faizullah từng nói về cơn đói khi tháng Ramadan bắt đầu: Thậm chí một người bị rắn cắn cũng có thể ngủ được, nhưng người đói thì không.

“Các con của em sẽ chết,” Laila nói. “Ngay trước mắt em.”

“Không đâu,” Mariam đáp. “Chị sẽ không để chúng chết. Mọi việc rồi cũng sẽ ổn thôi, Laila ạ. Chị biết mình phải làm gì.”

—★—

Vào một ngày nóng như thiêu như đốt, Mariam mặc burqa vào và cùng Rasheed cuốc bộ tới khách sạn Intercontinental. Xe bus với họ giờ đây là một thứ quá xa xỉ và Mariam mệt nhoài khi họ lên tới đỉnh của sườn đồi dốc đứng. Lúc trèo lên sườn đồi, cô đột nhiên hoa mắt chóng mặt và hai lần cô phải dừng lại nghỉ, đợi cho nó qua đi.

Tại cửa khách sạn, Rasheed chào và ôm một trong mấy người giữ cửa, người mặc bộ quần áo màu vang đỏ và đội mũ lưỡi trai. Cuộc nói chuyện giữa họ có vẻ rất thân thiết. Rasheed nói, một tay đặt lên khuỷu tay của người giữ cửa. Ông ta hất đầu về phía Mariam và cả hai người liếc nhanh sang bà. Mariam thấy người giữ cửa có vẻ gì đó quen quen.

Khi ông ta đi vào trong, Mariam và Rasheed đợi bên ngoài. Từ vị trí thuận lợi này, Mariam có thể nhìn thấy Viện Kỹ thuật, xa hơn nữa là quận Khair Khana và con đường dẫn tới Mazar. Về phía Nam, cô có thể thấy nhà máy sản xuất bánh mì Silo từ lâu đã bị bỏ hoang, một màu vàng nhợt nhạt lỗ chỗ cùng với các lỗ thủng toác ra, hậu quả của những đợt nã pháo mà nơi đây phải gánh chịu. Xa hơn nữa về phía Nam, bà có thể nhìn thấy những phế tích của cung điện Darulaman, nơi mà nhiều năm trước Rasheed đã đưa bà đi dã ngoại. Ký ức về ngày ấy chỉ như là một di vật từ quá khứ, một di vật dường như không còn thuộc về bà nữa.

Mariam tập trung vào những thứ này, những địa điểm này. Bà sợ rằng mình có thể mất tinh thần nếu cứ để tâm trí đi lang thang.

Cứ vài phút lại có những chiếc xe jeep và xe taxi đến cửa khách sạn. Những người giữ cửa vội vàng chạy ra đón khách, tất cả đều là những người đàn ông có vũ trang, để râu, đội khăn xếp, người nào người nấy bước ra với một tác phong quả quyết như nhau, một không khí nặng nề bao phủ. Mariam nghe được một vài đoạn tán gẫu của họ khi họ đi ngang qua cửa khách sạn. Bà nghe thấy không chỉ tiếng Pashto và Farsi mà cả tiếng Urdu và Ả rập nữa.

“Hãy gặp những người chủ thực thụ của chúng ta,” Rasheed nói nhỏ. “Những người Hồi giáo Pakistan và Ả rập. Quân Taliban là những con rối. Những người này mới là người chơi chính và Afghanistan là sân chơi của họ.”

Rasheed nói ông ta nghe đồn rằng quân Taliban cho phép những người này lập các trại bí mật trên khắp đất nước, ở đó, thanh niên được huấn luyện để trở thành những người đánh bom cảm tử và các chiến binh tử vì đạo.

“Anh ta làm gì mà lâu vậy?” Mariam hồi.

Rasheed khạc nhổ một bãi nước bọt xuống đất.

Một giờ sau, Mariam và Rasheed đã vào bên trong khách sạn và đi theo người giữ cửa. Gót giày của họ nện lách cách xuống sàn lát đá hoa khi họ được dẫn qua hành lang mát lạnh. Mariam thấy hai người đàn ông cầm súng ngồi trên ghế da, giữa họ là một cái bàn uống cà phê, họ nhấp trà đen và ăn món jelabi rưới xi rô, những chiếc bánh tròn được rắc bột đường. Bà chợt nghĩ về Aziza, con bé rất thích ăn jelabi, và bà hướng cái nhìn của mình đi nơi khác.

Người gác cửa dẫn họ ra ngoài một ban công. Anh ta rút từ túi ra một chiếc điện thoại nhỏ không dây màu đen và một mảnh giấy nhỏ với một dãy số nguệch ngoạc trên đó. Anh ta bảo Rasheed đó là điện thoại của người quản lý của anh ta.

“Tôi cho anh năm phút,” anh ta nói. “Không hơn.”

“Tashakor,” Rasheed nói. “Tôi sẽ không quên ơn anh.” Người đàn ông gật đầu và bước đi. Rasheed quay số và đưa điện thoại cho Mariam.

Khi Mariam nghe tiếng chuông điện thoại kêu lạo xạo, tâm trí bà lại trôi vơ vẩn. Nó trôi về lần cuối bà gặp Jalil, mười ba năm trước, mùa xuân năm 1987. Ông đứng trên con đường ngoài nhà bà, chống gậy ba toong, bên cạnh chiếc xe Benz màu xanh với biển đăng ký Herat và có một đường sọc trắng chia đôi mái, mui và thân xe. Ông đứng đấy đợi bà hằng giờ, thỉnh thoảng gọi tên bà, giống như bà đã từng gọi tên ông từ bên ngoài nhà ông. Mariam mở hé hé rèm ra, chỉ một chút, và thoáng nhìn thấy ông. Chỉ là một cái nhìn lướt qua thôi nhưng cũng đủ để bà có thể thấy tóc ông đã hơi ngả bạc và lưng ông đã bắt đầu còng xuống. Ông đeo kính, đeo cà vạt đỏ như thường lệ, và vẫn có một chiếc khăn tay trắng gấp hình tam giác ở trên túi ngực. Điều khiến bà bị ấn tượng nhất là ông gầy hơn, gầy hơn rất nhiều so với những gì bà nhớ, chiếc áo khoác màu nâu đậm rũ qua vai, chiếc quần dài tới mắt cá chân.

Jalil cũng đã thấy bà, dù chỉ là thoáng qua. Ánh mắt của họ đã chạm nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi qua một kẽ hở nhỏ của tấm rèm, cũng giống như lần họ thấy nhau nhiều năm trước qua khe hở của một tấm rèm khác. Nhưng sau đó Mariam đóng ngay cửa sổ lại. Bà ngồi lên giường, đợi ông bỏ đi.

Bây giờ bà lại nghĩ về bức thư mà Jalil đã để lại tại cửa nhà bà. Bà đã giữ nó dưới gối trong nhiều ngày, thi thoảng cầm nó lên, lật qua mặt này mặt kia, rồi cuối cùng xé nó đi mà không mở ra đọc.

Và bây giờ bà ở đây, sau chừng ấy năm, đang gọi cho ông.

Giờ đây Mariam nuối tiếc về sự kiêu hãnh bồng bột và ngu ngốc của mình. Bây giờ bà ước rằng bà đã để cho ông vào. Có hại gì đâu nếu bà cho ông vào, ngồi với ông, để cho ông nói những điều ông đến để nói? Ông là bố bà. Ông đã không phải là người bố tốt, điều đó đúng, nhưng giờ đây lỗi lầm của ông mới bình thường làm sao, mới đáng để tha thứ làm sao khi so sánh với sự độc ác của Rasheed, hay tính hung ác và tàn bạo mà bà thấy những người đàn ông đã đối xử với nhau.

Bà ước gì mình đã không xé bức thư của ông.

Một giọng đàn ông trầm trầm thông báo với bà rằng bà đang gọi tới văn phòng của thị trưởng Herat.

Mariam hắng giọng. “Salaam*, người anh em, tôi đang tìm một người sống ở Herat. Hoặc ông ấy đã sống ở đó nhiều năm trước. Ông ấy tên là Jalil Khan. Ông ấy sống ở Shar-e-Nau và sở hữu một rạp chiếu phim. Ông có thông tin gì về nơi ở của ông ấy không?”

Có thể nghe thấy sự khó chịu trong giọng nói của người đàn ông. “Đây là lý do bà gọi điện đến văn phòng thị trưởng sao?”

Mariam nói bà không biết phải gọi điện cho ai nữa. “Hãy tha lỗi cho tôi, người anh em. Tôi biết ông có rất nhiều việc quan trọng phải quan tâm tới nhưng đây là vấn đề sống còn nên tôi mới gọi điện cho ông.”

“Tôi không biết ông ta là ai. Rạp chiếu bóng đó cũng đóng cửa nhiều năm rồi.”

“Liệu có ai đó có thể biết ông ấy không, ai đó…”

“Không có ai cả.”

Mariam nhắm mắt lại. “Làm ơn, người anh em. Có cả những đứa trẻ liên quan tới vấn đề này. Những đứa trẻ còn rất nhỏ.”

Có tiếng thở dài thườn thượt.

“Có thể có ai đó ở đó…”

“Có một người gác cổng ở đây. Tôi nghĩ ông ta đã ở đây từ khi còn bé.”

“Dạ vâng, làm ơn hãy hỏi ông ta.”

“Ngày mai hãy gọi lại.”

Mariam nói bà không thể. “Tôi chỉ được dùng chiếc điện thoại này trong vòng năm phút thôi. Tôi không…”

Có một tiếng cạch ở đầu dây bên kia và Mariam nghĩ ông ta đã gác máy. Nhưng bà có thể nghe rõ tiếng bước chân, những giọng nói, tiếng còi ô tô từ xa và những tiếng máy kêu rền bị ngắt quãng bởi những tiếng lách cách, có thể là một cái quạt điện. Bà chuyển ống nghe sang tai kia và nhắm mắt lại.

Bà hình dung ra hình ảnh Jalil mỉm cười, thò tay vào trong túi áo.

Ah. Tất nhiên rồi. Đây. Của con đây. Không giả bộ nữa…

Một mặt dây chuyền hình chiếc lá, những đồng tiền xu nhỏ xíu được khắc hình mặt trăng và các ngôi sao trên đó.

Đeo thử đi, Mariam thân yêu của bố.

Bố thấy thế nào?

Bố nghĩ con trông giống như một nữ hoàng.

Một vài phút trôi qua. Sau đó có tiếng bước chân, một âm thanh cót két và sau đó là một tiếng cạch. “Ông ta biết ông ấy đấy.”

“Ông ta biết ư?”

“Ông ta nói vậy.”

“Ông ta ở đâu?” Mariam nói. “Người đàn ông đó biết Jalil Khan ở đâu sao?”

Một khoảng lặng. “Ông ta nói ông ấy đã chết nhiều năm trước, năm 1987.”

Mariam lặng người. Tất nhiên bà đã nghĩ đến khả năng này. Jalil có lẽ bây giờ đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, nhưng…

1987.

Hồi đó ông đã cận kề với cái chết. Ông đã lái xe cả chặng đường từ Herat để tới nói lời từ biệt.

Bà ra đứng sát thành ban công. Từ trên này bà có thể thấy cái bể bơi của khách sạn đã từng nổi tiếng một thời, bây giờ khô cạn và bẩn thiu, chỉ còn rải rác những hố đạn và những phiến đá vỡ nát. Còn có một cái sân tennis méo mó, tấm lưới rách tả tơi nằm vắt giữa sân trông giống như lớp da chết của một con rắn vừa lột xác.

“Bây giờ tôi phải đi đây,” giọng nói bên đầu dây kia vang lên.

“Tôi xin lỗi đã làm phiền ông,” Mariam nói, bà khóc không thành tiếng trong điện thoại. Bà thấy Jalil đang vẫy bà, ông nhảy từ hòn đá này sang hòn đá khác khi băng qua suối, túi ông căng phồng những quà. Lần nào cũng vậy, bà luôn nín thở chờ đợi ông và cầu xin Thượng đế cho bà nhiều thời gian được ở bên ông hơn. “Cám ơn,” Mariam cất tiếng nói, nhưng người đàn ông bên đầu dây kia đã gác máy.

Rasheed đang nhìn bà. Mariam lắc đầu.

“Thật mất công vô ích,” ông ta nói và giật mạnh chiếc điện thoại từ tay bà. “Cha nào con nấy.”

Trên đường ra hành lang, Rasheed bước nhanh về phía chiếc bàn cà phê giờ đã không còn ai ngồi và nhét vào túi miếng jelabi cuối cùng. Ông ta mang về nhà đưa cho Zalmai.

—

Laila

Aziza để những thứ này trong một cái túi giấy: áo sơ mi hoa và đôi bít tất duy nhất của mình, một đôi găng tay len cọc cạch, cái chăn màu bí ngô có hình các ngôi sao và sao chổi, một chiếc cốc nhựa đã bị nứt, một quả chuối, bộ xúc xắc của nó.

Đó là một buổi sáng lạnh lẽo tháng Tư năm 2001, vài ngày trước sinh nhật lần thứ hai mươi ba của Laila. Bầu trời màu xám đục, những cơn gió lạnh và ẩm ướt làm mành cửa rung sột soạt.

Đó là một vài ngày sau khi Laila nghe tin Ahmad Shah Massoud đã tới Pháp và nói chuyện với Nghị viện châu Âu. Massoud giờ đang ở miền Bắc, quê hương ông, và lãnh đạo Liên minh Phương Bắc, nhóm duy nhất còn chống lại Taliban. Ở châu Âu, Massoud đã cảnh báo phương Tây về những trại khủng bố ở Afghanistan và xin viện trợ của Mỹ để chống lại Taliban.

“Nếu tổng thống Bush không giúp đỡ chúng tôi,” ông ta nói, “thì một ngày không xa, những kẻ khủng bố này cũng sẽ phá hoại Mỹ và châu Âu.”

Laila được biết rằng một tháng trước đó, quân Taliban đã đặt thuốc nổ TNT vào các khe của những bức tượng Phật khống lồ ở Bamiyan và cho nổ tung chúng, gọi đó là các vật biểu tượng cho sự sùng bái và tội lỗi. Sự phản đối lan rộng trên toàn thế giới, từ Mỹ tới Trung Quốc. Các chính phủ, các nhà lịch sử và các nhà khảo cổ trên toàn cầu đã viết thư cầu xin Taliban đừng phá hủy hai tạo tác lịch sử lớn nhất của Afghanistan. Nhưng quân Taliban vẫn không dừng lại và đặt thuốc nổ vào bên trong những bức tượng Phật hai nghìn năm tuổi. Họ hô Allah-u-akbar mỗi khi một quả mìn nổ và hò reo mỗi khi những bức tượng mất đi một tay hay một chân trong đám bụi mù mịt. Laila nhớ đã từng đứng trên đỉnh của bức tượng Phật lớn hơn trong số hai bức tượng này với Babi và Tariq năm 1987, một làn gió thổi nhẹ lên khuôn mặt ngập tràn ánh nắng của họ, và họ ngắm nhìn một con chim ưng đang liệng tròn quanh thung lũng trải dài phía dưới. Nhưng khi Laila nghe tin những bước tượng bị phá hủy, cô trở nên vô cảm. Đó dường như không phải là vấn đề nữa. Làm sao cô còn có thể quan tâm về những bức tượng trong khi cuộc sống của chính cô cũng đang vỡ vụn?

Cho tới khi Rasheed nói với cô rằng đã đến lúc phải đi thì Laila vẫn ngồi ở góc sàn phòng khách, không nói năng gì và khuôn mặt của cô dường như hóa đá, tóc cô xõa xuống mặt từng lọn rối tung. Và dù có hít vào thở ra liên tục thì cô vẫn cảm thấy không có đủ không khí để thở.

—★—

Trên đường tới Karteh-Seh, Rasheed bế Zalmai trên tay, Aziza nắm tay Mariam và bước nhanh bên cạnh bà. Một cơn gió nhẹ thổi tung chiếc khăn cáu bẩn quàng dưới cằm Aziza và làm vạt váy nó dập dềnh. Giờ đây, càng đi Aziza càng trở nên buồn hơn, như thể cứ thêm mỗi bước đi, nó lại càng nhận thức rõ ràng hơn rằng mình dang bị lừa dối. Laila không có đủ can đảm để nói với Aziza sự thật. Cô đã nói với nó rằng nó sẽ được tới trường học, một ngôi trường đặc biệt, nơi học sinh được ăn, ngủ và không phải về nhà sau giờ học. Bây giờ thì Aziza bắt đầu dồn dập hỏi Laila những câu hỏi giống như những câu mà nó đã hỏi trong nhiều ngày qua. Học sinh có ngủ tại các phòng riêng biệt không hay tất cả đều ngủ chung ở một phòng lớn? Nó có thể kết bạn không? Và cô, Laila, có chắc rằng các giáo viên ở đấy sẽ tử tế không?

Và, hơn một lần con bé hỏi, Con sẽ phải ở đó trong bao lâu?

Họ dừng lại ở tòa nhà xây theo kiểu doanh trại thấp lùn, cách đó hai khu nhà.

“Zalmai và tôi sẽ đứng đợi ở đây,” Rasheed nói. “À, suýt nữa thì bố quên mất…”

Ông ta rút từ trong túi ra một phong kẹo gôm, một món quà chia tay và đưa cho Aziza với vẻ hào hiệp nhưng cứng nhắc. Aziza cầm lấy và khẽ cám ơn. Laila ngạc nhiên trước tấm lòng khoan dung, trước sự bao dung độ lượng của Aziza và nước mắt cô giàn giụa. Trái tim cô như bị siết chặt và cô muốn ngất đi vì đau đớn khi nghĩ đến cảnh chiều nay về Aziza sẽ không nằm ngủ bên cạnh cô, rằng cô sẽ không còn được cảm nhận thấy cánh tay cô bé đặt trên ngực cô, đầu của Aziza rúc vào ngực cô, hơi thở của Aziza ấm áp gần cổ cô, hay gót chân của Aziza chọc vào bụng cô.

Khi Aziza được dẫn đi, Zalmai bắt đầu khóc thét lên và nó gọi Ziza! Ziza! Nó giãy giụa và đá đá cánh tay bố nó, đòi được gặp chị cho tới khi sự chú ý của nó chuyển sang con khỉ của người chơi đàn oóc gan rong bên kia đường.

Ba người bọn họ, Mariam, Laila và Aziza bước qua hai khu nhà cuối cùng. Khi họ đến tòa nhà, Laila có thể thấy những mảng sơn bong ra loang lổ, thấy mái ngói võng xuống, những tấm ván đóng chéo vào khung cửa sổ đã bị mất cánh, đỉnh của một cái xích đu thì được bắc ngang qua một bức tường đổ nát.

Họ dừng lại trước cửa và Laila nhắc lại những điều cô đã từng dặn Aziza lúc trước.

“Nếu người ta hỏi về bố con thì con sẽ nói gì?”

“Bọn Chiến binh Hồi giáo đã giết ông,” Aziza trả lời một cách thận trọng.

“Tốt lắm. Aziza, con có hiểu không?”

“Bói vì đây là một ngôi trường đặc biệt,” Aziza trả lời. Bây giờ, khi họ đã đến đây và tòa nhà đã ở ngay trước mắt, con bé trông run rẩy. Môi dưới của nó rung lẩy bẩy và nước mắt chỉ chực trào ra, Laila thấy nó đã phải cố gắng một cách khó khăn thế nào để tỏ ra dũng cảm. “Nếu chúng ta nói sự thật thì họ sẽ không nhận con. Đây là một ngôi trường đặc biệt. Con muốn về nhà.” Aziza nói, giọng nhỏ nhẹ không ra hơi.

“Mẹ sẽ đến thăm con thường xuyên,” Laila cố gắng nói. “Mẹ hứa.”

“Ta cũng vậy,” Mariam nói. “Ta cũng sẽ tới thăm con, Aziza bé bỏng, và chúng ta sẽ chơi cùng nhau, giông như mọi khi. Chỉ một thời gian thôi, cho tới khi bố con tìm được việc làm.”

“Ở đây họ có thức ăn,” Laila nói giọng run run. Cô mừng vì có chiếc burqa, mừng vì Aziza không thể thấy đằng sau đó toàn thân cô đang rã rời. “Ở đây con sẽ không bị đói. Họ có cơm, bánh mì và nước uống, và có khi cả hoa quả nữa.”

“Nhưng mẹ sẽ không ở đây. Cả Khala Mariam cũng sẽ không ở đây với con.”

“Mẹ sẽ tới thăm con,” Laila nói. “Thường xuyên. Nhìn mẹ đây, Aziza. Mẹ sẽ tới thăm con. Mẹ là mẹ của con. Nếu mẹ có phải chết, mẹ cũng vẫn sẽ tới với con.”

—★—

Giám đốc trại mồ côi là một người đàn ông gù, ngực hẹp, khuôn mặt dễ mến. Ông bị hói, có bộ râu rậm và đôi mắt trông như hai hạt đậu. Tên ông là Zaman. Ông đội một chiếc mũ chỏm. Mắt kính bên trái bị nứt.

Trong khi dẫn họ tới phòng làm việc của mình, ông hỏi tên Laila và Mariam, tên và tuổi của Aziza. Họ đi qua dãy hành lang mờ mờ, nơi những đứa trẻ chân trần vừa bước tránh sang một bên vừa dõi mắt nhìn theo họ. Đứa thì xõa tóc, đứa thì cạo đầu. Chúng mặc những chiếc áo len sờn tay, quần bò rách rưới, chỗ đầu gối sờn chỉ còn trơ sợi vải còn những chiếc áo khoác thì được vá bằng băng dính. Laila ngửi thấy mùi xà bông, bột thơm tan, mùi amoniac và mùi nước tiểu, cô cũng cảm thấy sự e sợ đang dâng lên trong Aziza, con bé bắt đầu khóc thút thít.

Laila liếc qua cái sân: cỏ dại um tùm, chiếc xích đu lung lay, những cái lốp cũ nát, một quả bóng rổ đã xẹp hơi. Mấy gian phòng họ đi qua đều tồi tàn xơ xác, cánh cửa sổ được che bởi những tấm nhựa. Một cậu bé lao tới từ một trong những gian phòng đó túm lấy khuỷu tay của Laila và cố trèo lên tay cô. Một người phục vụ đang lau vũng nước trông như nước tiểu, đặt giẻ lau sàn xuống và lôi thằng bé ra.

Zaman dường như rất hòa nhã với đám trẻ mồ côi. Ông xoa đầu và nói vài lời thân mật với chúng khi đi ngang qua, không một chút ngại ngần. Chúng rất thích khi ông làm vậy. Bọn trẻ tất cả đều nhìn ông, Laila nghĩ chúng mong ông để ý tới mình.

Ông chỉ cho họ vào văn phòng, gian phòng chỉ vỏn vẹn có ba cái ghế gấp và một chiếc bàn với hàng đống giấy tờ bề bộn ở trên.

“Bà tới từ Herat,” Zaman nói với Mariam. “Tôi biết điều đó qua giọng nói của bà.”

Ông ngả người ra sau ghế, khoanh tay trước bụng và nói ông có một người em vợ đã từng sống ở đó. Laila nhận thấy sự nặng nề trong từng cử động rất bình thường của ông. Và mặc dù ông thoáng cười một cách uể oải nhưng Laila có thể cảm nhận được sự phiền muộn và tổn thương sâu thẳm trong ông, sự thất vọng và thất bại được che đậy bằng bề ngoài vui vẻ.

“Cậu ấy là thợ làm thủy tinh,” Zaman nói. “Cậu ấy đã tạo ra những con thiên nga đẹp tuyệt màu ngọc bích này. Khi ra ánh nắng chúng sáng lấp lánh như thể bên trong là những viên châu báu nhỏ li ti. Bà đã quay về đó chưa?”

Mariam trả lời rằng chưa.

“Tôi thì từ Kandahar tới. Bà đã từng tới Kandahar chưa, hamshira? Chưa à? Ở đấy tuyệt lắm. Những khu vườn! Những chùm nho! Ôi những chùm nho ngon đến mê mẩn.”

Mấy đứa trẻ tụ tập trước cửa lén nhìn vào trong phòng. Zaman nhẹ nhàng suỵt đuổi chúng bằng tiếng Pashto.

“Tất nhiên tôi cũng rất yêu Herat. Thành phố của những nghệ sĩ và nhà văn, những vị Sufi và những điều thần bí. Chắc bà cũng biết câu nói đùa rằng ở Herat, hễ duỗi chân ra là thế nào người ta cũng đạp phải mông của một nhà thơ.”

Bên cạnh Laila, Aziza đang sụt sịt.

Zaman vờ há hốc miệng. “À, ta vừa làm cháu cười rồi đấy, hamshira bé nhỏ. Đây luôn là phần khó khăn. Bác hơi lo một chút. Bác đang nghĩ mình phải giả tiếng gà con hay tiếng bẹ be của con lừa để làm cháu vui. Cháu thật đáng yêu.”

Ông gọi người phục vụ vào trông Aziza một lát. Aziza liền lao vào lòng Mariam và bám chặt lấy bà.

“Con yêu, mẹ chỉ nói chuyện với bác một lúc thôi,” Laila nói. “Mẹ vẫn ở đây. Được không nào? Mẹ ở ngay đây mà.”

“Sao chúng ta không ra ngoài một chút, Aziza yêu quý?” Mariam đề nghị. “Mẹ con cần nói chuyện với bác Zaman ở đây. Chỉ một phút thôi. Nào, đi nào.”

Khi chỉ còn hai người với nhau, Zaman hỏi cô về ngày sinh của Aziza, lịch sử bệnh lý, có dị ứng với thuốc và thức ăn hay không. Ông hỏi về bố của Aziza và Laila cảm thấy một cảm giác kỳ lạ khi phải trình bày một lời tưởng như dối trá nhưng trên thực tế lại là sự thật. Zaman lắng nghe, vẻ mặt ông chẳng biểu lộ dấu hiệu tin tưởng hay hoài nghi. Ông nói mình điều hành trại trẻ mồ côi này trên nguyên tắc danh dự. Nếu một hamshira nói rằng chồng cô ta đã qua đời và cô ta không thể chăm sóc bọn trẻ, ông sẽ không nghi ngờ điều đó.

Laila bật khóc.

Zaman đặt bút xuống.

“Tôi thật xấu hổ,” Laila thốt lên một cách đau đớn, lấy tay che miệng.

“Nhìn tôi đây, hamshira.”

“Tôi là loại mẹ gì mà lại bỏ rơi con mình thế này?”

“Nhìn tôi đi.”

Laila ngước lên.

“Đó không phải lỗi của cô. Cô có nghe tôi nói không? Không phải. Chính những con người độc ác kia, những wahshi kia, mới đáng bị lên án. Họ làm cho một người Pashtun như tôi đây phải cảm thấy hổ thẹn. Họ bôi nhọ thanh danh dân tộc tôi. Không chỉ riêng cô, hamshira à. Hằng ngày, hằng giờ, chúng tôi đều gặp những bà mẹ như cô tới đây, những người không thể nuôi con mình vì Taliban không cho họ ra ngoài kiếm sống. Thế nên, đừng tự đổ lỗi cho bản thân. Không ai ở đây đổ lỗi cho cô. Tôi hiểu.” Ông ngả về phía trước. “Hamshira à. Tôi hiểu mà.”

Laila lau nước mắt bằng chiếc burqa.

“Còn nơi này,” Zaman thở dài, khoát cánh tay ra hiệu, “cô đã thấy nó kinh khủng đến mức nào rồi. Chúng tôi luôn trong tình trạng không đủ kinh phí, luôn phải nhặt nhạnh từng đồng và tùy cơ ứng biến. Chúng tôi được hỗ trợ rất ít hoặc chẳng có gì từ Taliban. Nhưng chúng tôi tự xoay xở được. Cũng như cô, chúng tôi làm những gì phải làm. Đức Allah nhân từ, chừng nào ngài còn ban phước thì Aziza sẽ có thức ăn và áo mặc. Đó là những gì tôi có thể hứa với cô.”

Laila gật đầu.

“Thế có được không?”

Ông cười trìu mến. “Đừng khóc, hamshira, đừng để con cô thấy cô khóc.”

Laila lại lau nước mắt. “Cầu xin Thượng đế ban phước lành cho ông,” cô cố gắng nói. “Cầu xin Thượng đế ban phúc cho ông, người anh em.”

—★—

Thế nhưng, đến lúc chia tay, cảnh tượng diễn ra đúng như những gì Laila đã lo sợ.

Aziza hốt hoảng.

Suốt dọc đường về nhà, vịn vào người Mariam, Laila vẫn còn nghe thấy tiếng Aziza khóc. Trong đầu cô vẫn còn hiển hiện hình ảnh bàn tay thô ráp, chai sạn của Zaman đặt trên cánh tay Aziza, ban đầu ông kéo cô bé một cách nhẹ nhàng, rồi mạnh dần, sau đó như thể dùng vũ lực để tách Aziza khỏi cô. Cô thấy Aziza đá vào cánh tay Zaman, nghe thấy tiếng con bé thét lên như thể mẹ nó sắp biến mất khỏi mặt đất. Laila thấy mình đang lao ra hành lang, đầu cúi gằm xuống và tiếng gào thét dâng lên trong cổ họng.

“Em vẫn thấy mùi của con bé,” cô nói với Mariam. Cô liếc mắt một cách vô định qua vai Mariam, nhìn qua khoảng sân, những bức tường, tới những rặng núi nhuốm màu nâu như nước bọt của những người hút thuốc. “Em ngửi thấy cả mùi của nó khi đang ngủ. Chị có cảm thấy thế không?”

“Ôi, Laila thân mến,” Mariam nói. “Đừng như thế nữa. Như thế thì được ích gì chứ. Ích gì chứ?”

—★—

Ban đầu, Rasheed chiều lòng Laila và đi cùng với họ – cô, Mariam và Zalmai – tới trại mồ côi, mặc dầu trên đường đi ông ta cố làm cho mắt cô lúc nào cũng phải thấy vẻ khổ sở của ông ta, tai cô phải nghe thấy những lời rỗng tuếch về sự khó nhọc mà vì cô ông ta phải chịu đựng, về những cơn đau ở chân, lưng và bàn chân khi ông ta phải đi tới trại trẻ mồ côi. Ông ta cố làm cho cô thấy ông ta đang ở trong tình trạng tệ hại đến thế nào.

“Tôi không còn trai trẻ nữa,” ông ta nói. “Cô cũng chả quan tâm đâu. Cô sẽ đạp tôi xuống đất nếu như cô có một lối thoát. Nhưng cô sẽ không có đâu, Laila. Cô chả có lối thoát nào hết.”

Họ chia ra hai ngả khi còn hai khối phố nữa thì tới trại trẻ mồ côi, và ông ta không bao giờ cho họ quá mười lăm phút. “Muộn một phút,” ông ta nói, “là tôi sẽ đi. Nói trước đấy.”

Laila van vỉ ông ta để kéo dài thêm từng phút với Aziza. Cả cô và Mariam đều rất buồn khi vắng Aziza, dù vậy, Mariam luôn chọn cách chịu đựng một mình, riêng tư và thầm kín. Còn Zalmai, ngày nào nó cũng hỏi về Aziza, sự cáu giận của nó đôi khi biến thành những trận khóc không tài nào dỗ được.

Nhiều lúc, trên đường tới trại trẻ mồ côi, Rasheed dừng lại và phàn nàn về đôi chân đau nhức của mình. Rồi ông ta quay lại và lê những bước chậm rãi về nhà, trông không khác gì một lão què. Khi khác, ông ta lại làu bàu, “Ôi, phổi của tôi, Laila. Khó thở quá. Có thể ngày mai hay ngày kia mới thấy khá hơn được. Thế đấy.” Ông ta không hề ngại giả vờ buông ra một tiếng thở dài dễ khiến người khác nổi điên. Thông thường, ông ta cứ thế mà quay về, vừa đi vừa châm thuốc hút. Laila buộc phải lẽo đẽo theo ông ta về nhà trong sự bất lực, oán giận đến run người.

Rồi một ngày, ông ta nói với Laila rằng ông ta không thể đi cùng cô thêm nữa. “Tôi đã quá mệt vì phải đi bộ tìm việc hằng ngày,” ông ta nói.

“Vậy tôi sẽ đi một mình,” Laila nói. “Ông không ngăn tôi được đâu, Rasheed à. Ông nghe tôi nói không? Ông có thể đánh tôi nếu ông muốn nhưng tôi vẫn phải tiếp tục thôi.”

“Làm như cô muốn đi. Nhưng cô không thể qua mắt Taliban được đâu. Đừng nói là tôi không cảnh báo trước đấy.”

“Tôi sẽ đi với cô,” Mariam nói.

Laila không chấp nhận. “Chị phải ở nhà với Zalmai. Nếu chúng ta bị chặn lại… Em không muốn thằng bé phải thấy điều đó.”

Vậy là đột nhiên cuộc sống của Laila chỉ còn luẩn quẩn với việc tìm cách đến thăm Aziza. Đến một nửa số lần, cô không thể tới được trại trẻ mồ côi. Khi băng qua phố, cô lại bị Taliban phát hiện và tra hỏi bằng những câu như: Tên cô là gì? Đang đi đâu? Tại sao đi một mình? Người thân của cô đâu? rồi mới được tha cho về nhà. Nếu may mắn thì chỉ bị chửi bới mắng mỏ, đá đít một cái. Có lúc thì ăn dùi cui gỗ, cành cây còn tươi, roi da, ăn tát và thường xuyên bị đấm.

Một ngày nọ, một tên Taliban trẻ tuổi đánh Laila bằng một cái ăng ten radio. Sau đó, hắn tung một đòn chí mạng vào gáy cô và nói, “lần sau gặp mày, tao sẽ đánh mày sống dở chết dở.”

Lần đó, Laila về nhà. Cô nằm sấp xuống giường, cảm thấy mình như một con vật ngu xuẩn đáng thương, cô rít lên khi Mariam chườm vải ướt lên lưng và bắp đùi đầy máu. Nhưng thông thường, Laila không chịu khuất phục. Cô làm như thể là đang đi về nhà, rồi lại xuống phố bằng đường khác. Đôi khi cô cũng bị bắt quả tang, tra hỏi, quát nạt hai, ba thậm chí bốn lần trong một ngày. Khi thì roi da, khi thì dùng ăng ten quất và cô lê từng bước chậm chạp về nhà, người be bét máu, chẳng làm được gì ngoài liếc nhìn Aziza một cái. Dần dần, để đề phòng những trận đòn, kể cả khi trời nóng cô vẫn mặc hai, ba cái áo len dưới lớp áo burqa.

Nhưng với Laila, phần thưởng cô giành được nếu như có thể qua mặt được Taliban thật xứng đáng. Cô có thể dành bao nhiêu thời gian cũng được – thậm chí hằng giờ – để ở bên Aziza. Họ ngồi trong sân, bên cái xích đu, giữa bọn trẻ và những bà mẹ đến thăm, nói chuyện về những gì Aziza đã học được trong tuần đó.

Aziza nói Kaka Zaman dạy chúng hằng ngày, chủ yếu là học đọc và viết, đôi khi học về địa lý, một chút về lịch sử hay khoa học, có khi là về động thực vật.

“Nhưng chúng con phải bí mật,” Aziza nói, “để Taliban không biết.” Kaka Zaman chuẩn bị kim đan và những cuộn len để đề phòng trường hợp Taliban khám xét. “Chúng con sẽ giấu sách đi và vờ như đang đan áo.”

Một ngày nọ, trong lúc thăm Aziza, Laila thấy một người đàn bà trung niên, chiếc burqa bị xô về phía sau, đi cùng với ba cậu con trai và một cô gái. Laila nhận ra gương mặt sắc sảo, đôi lông mày rậm, cái miệng hóp và mái tóc hoa râm. Cô còn nhớ chiếc khăn choàng, chiếc váy đen, cái giọng cộc lốc và mái tóc buộc lởm chởm đằng sau gáy. Cô nhớ người đàn bà này đã từng cấm sinh viên nữ che mạng, đã từng nói phụ nữ và nam giới là bình đẳng, và không có lý do gì để người phụ nữ phải che mặt nếu như đàn ông không làm thế.

Có một lúc, Khala Rangmaal ngước nhìn lên và bắt gặp ánh mắt của Laila, nhưng Laila không thấy trong đôi mắt cô giáo cũ của mình một thoáng ngập ngừng nào, không thấy dấu hiệu nào chứng tỏ bà đã nhận ra cô.

—★—

“Có những vết nứt trên bề mặt vỏ trái đất,” Aziza nói. “Người ta gọi đó là sự đứt gãy.”

Đó là một buổi chiều thứ Sáu ấm áp của tháng Sáu năm 2001. Họ đang ngồi tại sân sau của trại trẻ mồ côi, bốn người gồm Laila, Zalmai, Mariam và Aziza. Thời gian này Rasheed trở nên dễ tính hơn – đúng là một điều bất thường – và đi cùng họ đến trại trẻ. Ông ta đang đứng trên phố, cạnh bến xe bus.

Những đứa trẻ chân trần chạy láo nháo xung quanh họ. Chúng chạy đuổi nhau, thở hổn hển quanh một quả bóng xịt hơi.

“Và tại hai bên rìa các vết đứt gãy là những lớp đất đá tạo nên vỏ trái đất,” Aziza nói tiếp.

Ai đó đã vén tóc Aziza về phía sau, bện và kẹp gọn gàng trên đỉnh đầu. Laila ghen tị vì ai đó đã ngồi sau con gái cô, bện những lọn tóc này lên lọn tóc kia, và yêu cầu con bé ngồi yên lặng.

Aziza đang say sưa minh họa bằng cách dang rộng hai cánh tay, ngửa lòng bàn tay lên rồi xoa chúng vào nhau. Zalmai quan sát chị nó với vẻ thích thú say mê.

“Đĩa Kectonic, có phải người ta gọi thế không?”

“Tectonic,” Laila nói. Cô thấy đau mỗi khi nói. Miệng, lưng, cổ cô vẫn còn đau nhức. Môi cô sưng vù, lưỡi chạm phải cái lợi rỗng của chiếc răng cửa dưới mà Rasheed đấm bay trong trận đòn hai hôm trước. Trước khi Mammy và Babi qua đời và cuộc sống của cô bị đảo ngược hoàn toàn, Laila không thể tin nổi sức chịu đựng và hồi phục của cơ thể con người có thể lớn đến vậy trước những đòn roi khắc nghiệt một cách thường xuyên như thế.

“Đúng vậy. Và khi những mảng lục địa đó gặp nhau, chúng tựa vào và trượt lên nhau. Mammy thấy chưa? Chính điều đó sẽ sản sinh ra năng lượng lan truyền trên bề mặt trái đất và tạo ra những chấn động.”

“Con ngày càng thông minh đấy,” Mariam nói. “Thông minh hơn nhiều so với bà khala khờ này của cháu.”

Nghe vậy, mặt Aziza sáng lên. “Bác đâu có khờ, Khala Mariam. Kaka Zaman nói rằng, đôi khi sự dịch chuyển sâu xuống dưới của những lớp đá trượt tạo ra những đợt phóng năng lượng cực lớn nhưng những gì chúng ta cảm nhận được chỉ là các chấn động nhỏ.”

Trong lần đến thăm trước là bài học về nguyên tử o xy trong bầu khí quyển làm tán xạ ra những tia sáng xanh từ ánh mặt trời. Nếu trái đất không có bầu khí quyển, Aziza nói, thì sẽ thật khó thở, bầu trời này không có màu xanh và biển chỉ là một màu đen như mực, còn mặt trời như một vì sao sáng khổng lồ trên bầu trời tối đen.

“Hôm nay Aziza có về với mình không?” Zalmai hỏi.

“Sớm thôi, con yêu,” Laila nói. “Sớm thôi.”

Laila nhìn thằng bé tha thẩn bước đi, dáng cúi khom về phía trước, các ngón chân xoay vào trong y như bố nó. Nó bước tới chỗ xích đu, đẩy cái ghế trống, rồi cuối cùng ngồi trên tấm bê tông có cỏ mọc lên từ các vết nứt.

Nước bay hơi từ lá, Mammy biết không? Như cách chúng ta hong đồ cho khô ấy. Nước được chuyển từ lòng đất qua rễ cây, lên thân cây qua cành rồi đến lá. Đó gọi là sự thoát hơi nước của cây.

Hơn một lần, Laila tự hỏi không biết Taliban sẽ làm gì khi phát hiện ra những bài học bí mật của Kaka Zaman.

Trong những lần mọi người đến thăm trại trẻ, Aziza không cho phép sự im lặng chen vào nhiều. Con bé tận dụng thời gian tối đa bằng những bài diễn thuyết hăng say, với chất giọng cao và lảnh lót. Nó nói những thứ không ăn nhập với chủ đề, khoa chân múa tay như chim với vẻ bối rối chẳng giống nó chút nào. Ngay cả điệu cười của Aziza cũng khác. Không hẳn là cười mà như một sự kết thúc đầy lo lắng, Laila ngờ rằng đó là cách để nó trấn an mọi người.

Và còn những thay đổi khác nữa. Laila nhận ra lớp đất cáu bẩn dưới móng tay của Aziza, và ngay khi nhận ra mẹ nó đang để ý, con bé bèn giấu hai bàn tay bẩn của mình xuống dưới đùi. Mỗi khi xung quanh họ có một đứa trẻ kêu khóc, mũi dãi chảy ròng ròng, hoặc khi có một đứa nào đó đi chân đất, đầu tóc bẩn thỉu, mí mắt của Aziza lại giật giật và nó nhanh nhảu giải thích. Những lúc ấy, con bé cư xử giống như một bà chủ nhà bối rối trước mặt khách vì sự thiếu ngăn nắp của nhà cửa và sự luộm thuộm của những đứa con.

Khi mọi người hỏi nó đã xoay xở như thế nào khi ở đây thì nhận được ngay câu trả lời vui vẻ nhưng mơ hồ.

Ổn cả, Khala, con ổn mà.

Bọn trẻ con có gây chuyện với con không?

Không Mammy à. Các bạn rất tốt.

Con ăn được chứ? Ngủ ngon không?

Ăn ngủ đều tốt ạ. Thật mà. Tối qua có món thịt cừu. Tuân trước cũng thế.

Nghe Aziza nói như thế, Laila thấy rõ ảnh hưởng của Mariam trong con bé.

Aziza nói lắp. Mariam để ý thấy ngay. Điều đó thoáng qua nhưng cũng dễ nhận ra, nhất là với những từ bắt đầu bởi chữ t. Laila hỏi Zalmai có thấy thế không. Thằng bé cau mày nghĩ rồi nói, “Con nghĩ là chị ấy đã luôn nói như thế.”

Chiều thứ Sáu đó, họ đưa Aziza ra ngoài chơi một lúc và đến gặp Rasheed, lúc ấy đang chờ tại bến xe bus. Khi Zalmai phát hiện ra bố mình, thằng bé thốt lên và lách khỏi tay Laila. Aziza chào Rasheed một cách lạnh lùng nhưng không thù địch.

Rasheed nói họ nên nhanh lên, hai giờ nữa là ông ta phải quay lại làm việc rồi. Đây là tuần đầu tiên ông ta làm gác cửa tại khách sạn Intercontinental. Từ trưa đến tám giờ tối, sáu ngày một tuần, công việc của Rasheed là mở cửa xe, mang vác hành lý và lau dọn chỗ bẩn. Đôi khi, đến cuối ngày, người đầu bếp ở nhà hàng buffet cho phép Rasheed mang thức ăn thừa về nhà, miễn là ông ta kín đáo một chút; những viên thịt viên chao dầu đã lạnh ngắt, cánh gà rán mà phần vỏ đã khô và cứng còng, mì ống nhồi sò đã dai ngoách và cơm có lẫn sỏi. Rasheed đã hứa với Laila rằng một khi ông ta để dành đủ tiền thì Aziza có thể về nhà.

Rasheed mặc đồng phục, bộ vest màu vang đỏ, áo trắng, kẹp cà vạt, mũ lưỡi trai che đi mái tóc đã bạc. Trong trang phục này, vẻ bề ngoài của Rasheed thay đổi hoàn toàn. Trông ông ta dễ mến và hầu như vô hại. Như thể một người không hề phải vật lộn với cuộc sống đầy ô nhục này. Một ai đó vừa đáng nể vừa đáng khinh trong cái vẻ ngoan ngoãn, dễ bảo ấy.

Năm người lên xe bus tới Thành phố Titanic. Họ đi bộ về phía lòng sông với những sạp bán quần áo tạm bợ mọc san sát nhau men theo bờ sông khô ráo. Khi họ đang đi xuống phía bên kia của cây cầu thì thấy gần đó, một người đàn ông chân trần đã chết đang lủng lẳng trên một cái cần cẩu, đôi tai anh ta bị cắt cụt và cái cổ gục xuống ở phía đầu sợi dây thừng. Dưới lòng sông, họ hòa vào dòng người đi chợ đang hối hả, những người đổi tiền, những người làm cho các tổ chức phi chính phủ với bộ dạng chán chường, những người bán thuốc lá dạo, những phụ nữ che mặt đang len lỏi và chìa đơn thuốc kháng sinh giả để xin tiền. Quân Taliban lăm lăm roi da trên tay, miệng nhai naswar, đi tuần trên phố Titanic, canh chừng những tiếng cười vô ý và những khuôn mặt bỏ mạng che.

Từ một sạp đồ chơi nằm giữa sạp bán áo choàng poostin và quầy bán hoa giả, Zalmai nhặt lấy một quả bóng rổ có xoắn vàng và xanh.

“Lấy thứ gì đó đi,” Rasheed bảo Aziza.

Aziza lúng túng từ chối.

“Nhanh lên. Một giờ nữa tao phải có mặt ở chỗ làm rồi.”

Aziza chọn một chiếc máy bán kẹo gôm – cho đồng xu vào máy để lấy kẹo, sau đó lấy tiền thừa từ cái cửa mở ở dưới đáy.

Lông mày Rasheed dựng lên khi nghe người bán hàng nói giá. Sau một hồi kỳ kèo, cuối cùng Rasheed gắt gỏng với Aziza, như thể cô bé mới là người đang mặc cả với ông ta vậy, “Trả lại đi, tao không có tiền mua cho cả hai đâu.”

Trên đường trở về, càng đến gần trại trẻ thì bộ dạng của Aziza càng như cái bánh đa nhúng nước, không còn hứng khởi nữa. Tay nó thôi không vẫy tung tăng nữa. Mặt nó xị xuống. Lần nào cũng như vậy. Bây giờ đến lượt Laila, với sự giúp đỡ của Mariam, cố gắng làm chủ cuộc nói chuyện, cô cười một cách căng thẳng và xua đuổi không khí buồn bã bằng những lời nói đùa vu vơ lấp chỗ trống.

Sau khi Rasheed để họ ở lại và bắt xe bus đi làm, Laila dõi mắt theo Aziza vẫy chào tạm biệt và lê bước dọc con đường ở khu sau của nhà trẻ mồ côi. Cô nghĩ về Aziza, về sự đứt gãy và những va chạm mạnh mẽ ở sâu trong lòng đất mà con bé nói, về chuyện đôi khi chúng ta chỉ cảm thấy những chấn động nhẹ trên mặt đất.

—★—

“Ông đi đi!” Zalmai gào lên.

“Im nào,” Mariam nói. “Cháu đang la ai vậy?”

Cậu bé chỉ tay. “Đấy. Người đàn ông đấy.”

Laila nhìn theo ngón tay của nó. Có một người đàn ông đang đứng dựa lưng vào cửa trước. Anh ta quay đầu lại khi thấy họ tiến đến. Anh ta thả hai cánh tay đang khoanh trước ngực xuống và tiến vài bước về phía họ.

Laila đứng khựng lại.

Một âm thanh nghẹn ngào phát ra từ cổ cô. Đầu gối cô chùng xuống. Laila đột nhiên thấy thực sự cần và muốn tìm đến cánh tay, bờ vai, cổ tay của Mariam hay bất cứ một thứ gì để cô có thể dựa vào. Nhưng cô không làm gì. Cô không dám. Không dám nhúc nhích dù chỉ là một cử động nhỏ. Cô không dám thở mạnh, cũng không dám chớp mắt, sợ rằng anh chỉ là một ảo ảnh lờ mờ từ đằng xa, một ảo giác mong manh có thể biến mất bất cứ lúc nào. Laila đứng bất động nhìn Tariq cho tới khi lồng ngực của cô hết sạch không khí để thở, đôi mắt cô khô nhức cần được chớp. Và thật kỳ diệu làm sao, sau khi cô đã thở, mắt đã chớp thì ảo ảnh đó vẫn không biến mất, anh vẫn đứng ở đấy.

Laila cho phép mình tiến một bước về phía anh. Một bước nữa. Một bước nữa. Và sau đó cô bắt đầu chạy.

Prev
Next

Có thể bạn muốn đọc thêm

nam-centimet-tren-giay-shinkai-makoto
Năm Centimet Trên Giây – Shinkai Makoto
August 31, 2023
cha-va-con-tony-parsons
Cha Và Con – Tony Parsons
June 18, 2023
cua-chuot-va-nguoi-john-steinbeck
Của Chuột Và Người – John Steinbeck
September 29, 2022
noi-buon-chien-tranh-bao-ninh
Nỗi Buồn Chiến Tranh – Bảo Ninh
May 10, 2023

ThuVienOnline © 2026