Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khaled Hosseini - Chương 3.5
Mariam
Trên lầu, trong phòng của Mariam, Zalmai đang gập người lại. Nó đập đập trái bóng rổ cao su mới của mình vòng quanh trên sàn nhà một lúc rồi đập vào tường. Mariam bảo nó dừng lại nhưng nó biết bà chẳng có quyền gì cả nên cứ tiếp tục nảy trái bóng, đôi mắt bướng bỉnh nhìn chằm chằm vào mắt bà. Được một lúc, hai người đẩy chiếc xe đồ chơi của nó, một chiếc xe cứu thương với dòng chữ in đậm màu đỏ bên hông xe, họ đẩy đi đẩy lại khắp phòng.
Trước đó, khi họ gặp Tariq ở cửa, Zalmai giữ chặt quả bóng trước ngực và đút ngón tay cái vào mồm, nó không hay làm thế trừ khi sợ hãi. Nó nhìn Tariq với vẻ nghi ngờ.
“Người đàn ông đó là ai?” nó nói. “Cháu không thích ông ấy.”
Mariam đang định giải thích rằng ông ta và mẹ Laila đã lớn lên cùng với nhau, nhưng Zalmai đã ngắt lời và đòi bà quay cái xe cứu thương lại để cho tấm lưới phía trước thẳng về phía nó, và khi bà làm xong, nó lại đòi quả bóng.
“Nó ở đâu?” thằng bé nói. “Quả bóng mà Baba mua cho cháu đâu? Nó đâu rồi? Cháu muốn nó! Cháu muốn nó!” nó cao giọng và bắt đầu rít lên từng chữ.
“Vừa mới ở đây mà,” Mariam nói và thằng bé khóc, “Không, nó mất rồi, cháu biết mà. Cháu biết là nó biến mất rồi! Nó ở đâu? Nó ở đâu?”
“Đây,” bà nói, đoạn khều quả bóng từ dưới gầm tủ ra, nó đã lăn vào đó. Nhưng Zalmai cứ hét toáng lên và đấm thùm thụp, kêu khóc rằng không phải quả bóng đó, không thể là bóng của nó được vì quả bóng đã mất rồi, còn kia là quả bóng giả, quả bóng thật của nó đâu rồi? Ở đâu? Ở đâu ở đâu ở đâu?
Nó hét lên cho đến khi Laila phải chạy lên cầu thang để giữ nó, lay nó và đưa tay vuốt mó tóc xoăn dày sậm màu của nó, lau khô hai má ướt đẫm của nó và tắc tắc lưỡi vào tai nó.
Mariam đợi ở bên ngoài. Từ đầu cầu thang, bà chỉ nhìn thấy đôi chân dài của Tariq, một cái thật, một cái giả, anh mặc quần kaki, bước từng bước dài trên sàn nhà phòng khách không được phủ thảm. Bất chợt bà hiểu ra tại sao người đàn ông gác cổng tại Continental vào cái ngày bà và Rasheed đến đó gọi điện cho Jalil lại trông có vẻ quen thế. Lúc đó, ông ta đội mũ và đeo kính râm, vì thế bà đã không nhận ra sớm hơn. Nhưng bây giờ Mariam đã nhớ ra, khoảng chín năm trước, chính ông ta ngồi ở dưới nhà, lấy khăn tay lau trán và hỏi xin một cốc nước. Giờ đây, đủ loại câu hỏi đang chen lấn trong đầu bà: Có phải những viên thuốc sulfa cũng là một phần của trò bịp đó? Ai đã dàn dựng cuộc nói dối, cung cấp các chi tiết có sức thuyết phục đó? Và Rasheed đã trả bao nhiêu cho Abdul Sharif – nếu đó là tên hắn thật – để hắn đến và nhồi nhét vào đầu Laila câu chuyện về cái chết của Tariq?
—
Laila
Tariq kể rằng một trong những người ở cùng xà lim với anh có một người anh họ bị đánh đòn trước đám đông vì tội vẽ chim hồng hạc. Anh ấy, người anh họ, có một thứ dường như là thứ bệnh vô phương cứu chữa trong mắt họ.
“Trọn một bộ ký họa,” Tariq nói. “Hàng tá bức tranh sơn dầu về chúng, đang lội qua đập nước, đang tắm nắng ở khu đầm lầy. Và cả bay vào hoàng hôn nữa, anh e là như vậy.”
“Những con hồng hạc,” Laila nói. Cô nhìn anh đang ngồi quay lưng lại với bức tường, cái chân lành lặn của anh khoanh lại. Cô khao khát dược chạm vào anh lần nữa, giống như cô đã làm lúc nãy ở cổng trước, khi cô chạy về phía anh. Bây giờ cô xấu hổ khi nhớ lại cảnh mình choàng tay qua cổ anh và gục vào ngực anh, cách cô gọi tên anh liên tục bằng cái giọng khàn đặc và líu ríu. Cô nghĩ không biết có phải cô đã phản ứng quá nồng nhiệt, quá liều lĩnh không? Có thể thế lắm chứ. Nhưng cô không thể nào cưỡng lại được. Và bây giờ cô muốn lao tới để chạm vào anh một lần nữa, để chứng minh với chính mình rằng anh đang thực sự ở đây, rằng anh không phải là giấc mơ, là ảo ảnh.
“Thật thế,” anh nói. “Những con hồng hạc.”
Tariq kể, khi quân Taliban tìm thấy những bức tranh, chúng bực mình với những cái chân dài để trần của mấy con chim. Sau khi trói chân người anh họ kia lại và quất roi vào lòng bàn chân anh ấy đến bật máu, chúng bắt anh ấy phải lựa chọn: hoặc phá hủy các bức tranh hoặc làm cho những con hồng hạc trở nên trang nhã hơn. Vì thế người anh họ kia nhặt bút lông lên và vẽ thêm quần cho những con chim còn lại.
“Thế nào thì em biết rồi đấy. Những con hồng hạc theo đạo Hồi,” Tariq nói.
Tiếng cười chực bật ra từ miệng Laila nhưng cô đã dằn nó lại. Cô xấu hổ về hàm răng ố vàng, về cái răng cửa bị mất của mình. Cô xấu hổ về vẻ ngoài tiều tụy với cặp môi sưng phồng của mình. Cô ước gì mình đã có cơ hội để rửa mặt hay ít nhất là chải lại mái tóc.
“Nhưng anh ấy, người anh họ kia mới là người chiến thắng,” Tariq nói tiếp. “Anh ấy vẽ những cái quằn bằng màu nước. Khi quân Taliban đi khỏi, anh ấy chỉ việc rửa chúng đi.” Anh cười – Laila nhận ra anh cũng bị mất một chiếc răng – và nhìn xuống tay mình. “Thật thế.”
Tariq đang đội một chiếc pakol trên đầu, đi đôi giày leo núi và mặc áo len màu đen phủ kín thắt lưng chiếc quần kaki. Anh nhếch miệng cười và gật gù chậm rãi. Laila không nhớ trước đây anh đã từng nói vậy chưa, cái từ thật thế và cử chỉ trầm ngâm này, các ngón tay đan vào nhau tạo thành hình túp lều trên vạt áo anh, điệu bộ gật gù, tất cả đều mới lạ quá. Đấy là ngôn từ của người lớn, cử chỉ của người lớn, ấy thế mà sao nó lại khiến Laila ngạc nhiên đến vậy? Vì anh bây giờ đã là một người trướng thành, Tariq ấy, một người đàn ông hai mươi lăm tuổi với cử động chậm rãi và nụ cười mệt mỏi. Cao, có râu, mảnh khảnh hơn hình dung của cô trong những giấc mơ về anh, nhưng đôi bàn tay của anh thì rắn chắc, đôi bàn tay của người lao động, với đầy các đường gân ngang dọc. Khuôn mặt anh vẫn xương xương và điển trai nhưng làn da không còn trắng trẻo nữa; trán anh hằn rõ vẻ từng trải, dãi nắng dầm mưa, giống như phần cổ, vầng trán của người lữ hành ở cuối chặng đường dài và mệt mỏi. Cái mũ pakol được kéo ra sau đầu và cô có thể nhìn thấy tóc anh đang bắt đầu rụng. Đôi mắt màu lục của anh giờ đây nhìn ảm đạm hơn so với cô nhớ, nhạt hơn, hoặc có lẽ chỉ do ánh sáng của căn phòng.
Laila nghĩ về mẹ Tariq, về cử chỉ khoan thai, nụ cười thông minh và mái tóc giả màu tía nhạt của bà. Và bố anh, với ánh nhìn từ đôi mắt bị lé, vẻ châm biếm hóm hỉnh của ông. Lúc nãy, ở ngoài cửa, với một giọng nghẹn ngào nước mắt, nấc lên từng tiếng, cô kể lại với Tariq về những gì cô nghĩ là đã xảy ra với anh cùng bố mẹ anh, và anh lắc đầu. Vì vậy, cô hỏi anh bây giờ họ, bố mẹ anh, như thế nào rồi. Nhưng cô hối hận vì đã hỏi như vậy khi Tariq nhìn xuống và nói với vẻ đờ đẫn, “Họ mất cả rồi.”
“Em rất tiếc.”
“Ừ. Thôi. Anh cũng thế. Đây.” Anh lấy ra từ trong túi một gói giấy nhỏ rồi đưa cho cô. “Quà của Alyona.” Bên trong là cục pho mát bọc giấy bóng.
“Alyona. Cái tên đẹp quá.” Laila cố gắng nói tiếp mà không bị vấp. “Vợ anh à?”
“Con dê của anh.” Anh cười với cô với vẻ mong đợi, như thể anh đang chờ cô lục lại một ký ức.
Laila chợt nhớ ra. Một bộ phim Xô Viết. Alyona là con gái của truyền trưởng, cô đem lòng yêu người thuyền phó. Đó là ngày mà cô, Tariq và Hasina nhìn thấy những chiếc xe tăng, xe jeep của Xô Viết rời khỏi Kabul, là ngày Tariq đội cái mũ lông thú Nga lố bịch đó.
“Anh phải cột nó vào cái cọc,” Tariq kể. “Và xây hàng rào. Nhằm ngăn bọn chó sói. Ở chân đồi chỗ anh ở, có khu rừng gần đấy, có lẽ cách một phần tư dặm, hầu hết là cây thông, vài cây linh sam và cây thông huyết. Chúng chủ yếu ở trong rừng, bọn chó sói ấy, nhưng một con dê kêu be be, có vẻ như đang đi lang thang, sẽ thu hút sự chú ý của chúng. Vì thế cần có hàng rào. Có cọc.”
Laila hỏi anh chân đồi nào.
“Pir Panjal. Pakistan,” anh nói. “Nơi anh sống gọi là Murree; nó là một nơi nghỉ dưỡng mùa hè, cách Islamabad một giờ. Ở đó nhiều đồi núi và xanh ngắt, nhiều cây, nằm trên cao so với mực nước biển. V1 thế vào mùa hè ở đây rất mát. Một địa điểm du lịch hoàn hảo.”
Tariq kể, người Anh đã xây dựng nó để làm khu nghỉ dưỡng trên đồi, gần cơ quan quân sự đầu não của họ ở Rawalpindi với mục đích giúp cho quân của Nữ hoàng Victoria tránh cái nóng. Ta cũng có thể tìm thấy những di tích của thời thực dân còn sót lại, phòng trà dành cho các dịp đặc biệt, nhà gỗ một tầng mái lợp tôn gọi là nhà mùa hè, những thứ kiểu như thế. Thị trấn nhỏ và dễ chịu. Con đường chính gọi là Mall, có bưu điện, chợ, một vài quán xá, cửa hàng bán những cái ly được sơn vẽ và mấy tấm thảm kết bằng tay bán cho khách du lịch với giá cắt cổ. Đáng chú ý nhất là giao thông một chiều của Mall, lưu thông về một hướng trong một tuần, và về hướng ngược lại vào tuần tiếp theo. “Người bản địa nói rằng giao thông của Ireland nhiều nơi cũng giống thế. Anh cũng không biết. Dù sao nó cũng rất tuyệt. Cuộc sống đơn giản nhưng anh thích thế. Anh thích sống ở đấy.”
“Với con dê của anh. Với Alyona.”
Laila không có ý châm chọc mà muốn đề cập đến một vấn đề sâu xa khác, đó là ở đấy anh có ai khác cùng ở, cùng chia sẻ nỗi lo lắng về việc bầy sói ăn mất con dê không. Nhưng Tariq chỉ tiếp tục gật gù.
“Anh cũng rất tiếc về chuyện của bố mẹ em,” anh nói.
“Anh đã nghe.”
“Lúc nãy anh có nói chuyện với mấy người hàng xóm,” anh kể. Một khoảng im lặng, Laila tự hỏi là những người hàng xóm kia có nói gì khác nữa không. “Anh không nhận ra ai cả. Ý anh là những người hồi xưa ấy.”
“Họ đã đi cả rồi. Chẳng còn ai anh quen cả.”
“Anh không nhận ra Kabul nữa.”
“Em cũng vậy,” Laila đáp. “Đấy là em còn chưa bao giờ ra khỏi đây đấy.”
—★—
“Mẹ có bạn mới,” Zalmai nói sau bữa tối ngày hôm đó, khi Tariq đã rời khỏi. “Một người đàn ông.”
Rasheed nhìn lên. “Cô ta dám, vào lúc này?”
—★—
Tariq hỏi anh có thể hút thuốc không.
Tariq vừa gạt tàn thuốc vào cái đĩa nhỏ vừa kể lại anh và bố mẹ đã sống một thời gian ở trại tị nạn Nasir Bagh gần Peshawar. Khi họ đến nơi, đã có khoảng sáu mươi nghìn người Afghanistan sống ở đó.
“Nó không đến nỗi tệ như các trại khác, chẳng hạn như Jalozai, tạ ơn Thượng đế,” anh nói. “Anh đoán về khía cạnh nào đó nó thậm chí còn được xem là một kiểu trại hiện đại, vào thời Chiến tranh lạnh ấy, một nơi mà phương Tây có thể chỉ vào để chứng minh với thế giới rằng họ không đồng lõa với cánh tay quyền lực của Afghanistan.”
Nhưng đó là từ thời chiến tranh Xô Viết rồi, Tariq tiếp tục, thời đại huy hoàng của cuộc Thánh chiến Hồi giáo, với sự quan tâm của toàn thế giới và những lần viếng thăm cùng các khoản cứu trợ hào phóng từ Margaret Thatcher.
“Em biết phần kết rồi đấy, Laila. Sau khi chiến tranh kết thúc, Xô Viết sụp đổ, phương Tây chiếm ưu thế. Afghanistan chẳng đem lại chút lợi lộc nào cho họ nữa và tiền tài trợ cạn dần. Bây giờ Nasir Bagh chỉ còn lại toàn lều bạt, bụi bặm và các cống lộ thiên. Khi gia đình anh đến đó, họ gí vào tay bọn anh một cây gậy, một tấm bạt và bảo bọn anh tự đi mà dựng lều cho mình.”
Tariq nói rằng điều anh nhớ nhất về Nasir Bagh, nơi họ đã sống trong một năm, là màu nâu. “Lều nâu. Người nâu. Chó nâu. Cháo cũng nâu nốt.”
Có một cái cây trụi lá mà anh hay leo hằng ngày, nơi anh ngồi ghếch chân trên một cành cây và nhìn những người tị nạn nằm phơi mình dưới ánh mặt trời, những đôi bàn chân, cẳng chân của họ hiện ra trần trụi. Anh nhìn những đứa bé trai gầy còm đang xách nước trong mấy cái thùng xăng, đang thu nhặt phân chó lại để đốt, đang dùng dao cùn đẽo những khẩu súng đồ chơi AK-47 bằng gỗ, đang kéo lê những túi bột mì mà chẳng ai có thể dùng làm bánh vì đã vón lại thành cục. Xung quanh khu trại tị nạn, gió thổi làm lều bay phần phật. Gió quăng quật các gốc cỏ dại bay khắp mọi nơi, nâng những con diều bay lên từ các mái lều trát bùn.
“Rất nhiều đứa trẻ đã chết. Bệnh lỵ, lao, đói khát – và nhiều thứ khác nữa. Hầu hết là vì cái bệnh lỵ chết tiệt đó. Lạy Thánh Allah, Laila. Anh đã nhìn thấy người ta chôn bao nhiêu đứa trẻ. Thực sự đó là điều khủng khiếp nhất mà người ta có thể chứng kiến.”
Anh vắt chéo hai chân. Sự im lặng lại bao trùm lấy họ trong một lúc.
“Bố anh đã không sống sót được qua mùa đông đầu tiên,” anh trầm ngâm. “Ông chết trong lúc đang ngủ. Anh không nghĩ là có chút gì đau đớn.”
Anh kể tiếp, cũng mùa đông năm ấy mẹ anh bị viêm phổi và ở trong tình trạng thập tử nhất sinh, bà hẳn đã không sống nổi nếu không có vị bác sĩ ở khu trại, người đã biến một chiếc ô tô thành phòng khám di động. Bà thức suốt đêm, sốt, ho và khạc ra đờm sền sệt màu gỉ sắt. Người ta xếp hàng dài để được bác sĩ khám bệnh. Mọi người trong hàng đều run rẩy, rên rỉ, ho, có vài người còn bị đi ngoài và phân chảy xuống chân họ, những người khác thì quá mệt, quá đói hay quá yếu đến mức không thể nói được thành tiếng.
“Nhưng ông ấy rất tử tế, ông bác sĩ ấy. Ông ấy chữa bệnh cho mẹ anh, cho bà thuốc và cứu sống bà qua được mùa đông năm ấy.”
Cũng mùa đông năm ấy, Tariq đã dồn một thằng bé vào góc tường.
“Thằng bé mười hai, hay mười ba tuổi gì đó,” anh nói đều đều. “Anh cầm mảnh gương vỡ, gí vào cổ họng nó và giật tấm chăn từ tay nó. Anh đưa chăn cho mẹ.”
Tariq nói rằng sau trận ốm đó của mẹ, anh đã thề với mình rằng họ sẽ không phải trải qua bất cứ mùa đông nào ở trại tị nạn nữa. Anh sẽ đi làm, để dành tiền và chuyển mẹ đến một căn hộ ở Peshawar với nguồn nước nóng sạch. Khi mùa xuân đến, anh bắt đầu tìm việc. Mỗi ngày, một chiếc xe tải đến khu trại từ sáng sớm và lấy khoảng vài chục thanh thiếu niên, đưa họ đến công trường để chuyển đá hay đến các vườn cây ăn quả để thu hoạch táo, công là ít tiền lẻ, đôi khi là cái chăn, đôi giày. Nhưng họ không bao giờ muốn nhận anh, Tariq kể.
“Chỉ cần nhìn thấy chân anh là họ không nhận nữa.”
Cũng có những công việc khác. Đào mương, xây các khu nhà tạm bợ, xách nước, xúc phân từ nhà xí. Nhưng những thanh niên lành lặn khỏe mạnh đã giành hết mấy công việc đó và Tariq không bao giờ có cơ hội.
Rồi một ngày mùa thu năm 1999, anh gặp một người chủ cửa hàng.
“Ông ta trả tiền cho anh để anh mang một chiếc áo khoác da đến Lahore. Không nhiều lắm nhưng cũng đủ, đủ cho một tháng hay có lẽ hai tháng tiền thuê nhà.”
Ông ta đưa cho anh một vé xe bus và địa chỉ của một góc phố gần nhà ga Lahore, nơi anh phải đưa chiếc áo khoác cho một người bạn của ông ta.
“Anh đã biết. Tất nhiên anh biết,” Tariq khẳng định. “Ông ấy nói nếu như bị bắt, anh phải khai anh làm một mình, rằng anh nên nhớ ông ta biết nơi mẹ anh đang ở. Nhưng số tiền quá hấp dẫn để có thể từ bỏ. Mà mùa đông lại đang đến.”
“Anh cầm nó được bao xa?” Laila hỏi.
“Không xa lắm,” anh cười nói, nghe có vẻ hơi hối hận, xấu hổ. “Anh thậm chí còn chưa lên xe bus. Nhưng anh cứ nghĩ là anh sẽ thoát, em biết đấy, an toàn. Cho dù ở một số chỗ vẫn có người kiểm tra sổ sách, một gã nhét cây bút chì sau tai cứ theo dõi những thứ như thế và kiểm tra các thứ, thế nào gã cũng sẽ nhìn xuống và nói, ‘Được, được, cậu ta được mang cái này, cho qua đi. Cậu ta đã trả các khoản thuế cho thứ này.’”
Cần sa được nhét giữa các đường may nối, nó tràn ra khắp đường khi cảnh sát lấy dao rạch vào cái áo khoác.
Nói đến đây, Tariq lại cười, một cái cười run bần bật, và Laila nhớ anh đã cười như thế khi họ còn nhỏ, để che giấu sự bối rối, để biện hộ cho những việc điên rồ hay đáng hổ thẹn mà anh đã làm.
—★—
“Ông ta đi khập khiễng,” Zalmai nói.
“Có phải là cái gã mà tôi đang nghĩ tới không?”
“Cậu ta chỉ viếng thăm thôi,” Mariam phân trần.
“Cô, im ngay,” Rasheed gắt gỏng cắt ngang, chĩa ngón tay. Lão ta quay sang Laila. “Vậy, cô biết gì nào? Laili và Majnoon tái hợp hả. Giống như ngày xưa chứ gì.” Mặt lão ta trở nên lạnh lùng. “Thế là cô đã để hắn vào nhà. Ở đây. Trong nhà tôi. Cô để hắn bước vào. Hắn ở đây với con trai tôi.”
“Ông đã lừa tôi. Ông đã nói dối tôi,” Laila nói, nghiến răng rin rít. “Ông thuê người đàn ông đó tới ngồi đối diện với tôi và… Ông biết là tôi sẽ bỏ đi nếu tôi nghĩ anh ấy vẫn còn sống.”
“CÒN CÔ THÌ KHÔNG NÓI Dối TÔI CHẮC?” Rasheed rống lên. “Cô nghĩ tôi không đoán ra được à? Về đứa harami của cô! Cô coi tôi là thằng ngu à, đồ đĩ thõa?”
—★—
Tariq càng kể, Laila càng thấy sợ cái thời khắc mà anh sẽ kết thúc câu chuyện. Sự yên lặng khi ấy sẽ bao trùm, dấu hiệu đó có nghĩa rằng đến lượt cô giải thích tại sao, như thế nào và bao giờ, để xác nhận những thứ mà chắc chắn anh đã biết. Cứ khi nào anh ngừng nói là cô lại cảm thấy hơi buồn nôn, chóng mặt. Cô tránh ánh mắt của anh. Cô nhìn xuống bàn tay anh, nhìn những đám lông cứng sẫm màu đã xuất hiện trên mu bàn tay trong những năm cô không gặp anh.
Tariq không nói nhiều về những năm tháng trong tù, chỉ nói những thứ đại loại như anh đã học nói tiếng Urdu ở đó. Khi Laila hỏi, anh lắc đầu một cách nôn nóng. Từ cử chỉ này, Laila nhìn thấy các song sắt gỉ sét và những thân người không tắm gội, những người đàn ông hung bạo và những gian phòng chật chội, đông nghẹt, trần nhà mốc meo rêu mọc. Cô đọc được trên khuôn mặt anh những suy nghĩ về một nơi mà nhân phẩm bị hạ thấp, một nơi của sự hèn hạ và tuyệt vọng.
Tariq nói mẹ anh đã cố gắng đến thăm anh sau khi anh bị bắt.
“Bà đến ba lần. Nhưng anh không được gặp bà lần nào cả,” anh kể.
Anh viết cho bà một lá thư, và sau đó vài bức nữa, dù vậy anh không chắc bà có nhận được hay không.
“Và anh cũng viết thư cho em nữa.”
“Thật anh viết cho em à?”
“Ừ, hàng tập thư,” anh nói. “Ông bạn Rumi* của em cũng phải ghen tị với khả năng viết lách của anh đấy.” Rồi anh lại cười, lần này sảng khoái hơn, mặc dù anh chợt giật mình về sự bạo gan của mình và thấy ngượng vì những gì mình vừa tiết lộ.
Zalmai bắt đầu kêu ầm trên lầu.
—★—
“Rồi giống như ngày xưa chứ gì,” Rasheed nói. “Cả hai người. Tôi đoán là cô cho hắn nhìn thấy mặt rồi đúng không.”
“Mẹ đã làm thế,” Zalmai nhanh nhảu. Sau đó nó quay sang Laila, “Mẹ đã làm thế mà. Con đã thấy mẹ làm thế.”
—★—
“Con trai em không thích anh cho lắm thì phải,” Tariq nói khi Laila trở xuống cầu thang.
“Em xin lỗi,” cô nói. “Không phải như thế đâu. Nó chỉ… Thôi đừng bận tâm về nó.” Sau đó cô vội chuyển chủ đề vì cảm thấy tội lỗi và day dứt với Zalmai, nó chỉ là đứa bé, một đứa bé rất yêu bố nó, mà bố nó lại là người có ác cảm sẵn với người lạ thì thái độ đó của nó cũng dễ hiểu và chính đáng thôi.
Và anh đã viết thư cho em.
Hàng tập.
Hàng tập thư.
“Anh ở Murree bao lâu rồi?”
“Chưa tới một năm,” Tariq trả lời.
Anh kết bạn với một người đàn ông lớn tuổi hơn ở trong tù, tên là Salim, một người Pakistan, trước đây từng là vận động viên hockey sân cỏ, vốn phải vào tù ra tội nhiều năm rồi và lúc đó đang phải chịu án mười năm tù vì đã đâm một cảnh sát chìm. Nhà tù nào cũng có người như Salim, Tariq nói. Luôn luôn có một người nào đó rất khôn ngoan và quen biết rộng, nắm được hệ thống và tìm cho ta những thứ ta cần, người luôn được bao quanh bởi cả cơ hội và hiểm nguy. Chính Salim đã nhờ bên ngoài hỏi thăm tin tức về mẹ của Tariq, chính Salim đã ngồi xuống bên cạnh anh và thông báo với anh bằng giọng nhẹ nhàng và hiền hậu rằng mẹ anh đã chết vì phải dầm dãi nắng mưa.
Tariq trải qua bảy năm ở nhà tù Pakistan. “Anh vượt qua cũng dễ dàng,” anh kể. “Anh rất may mắn. Vị chủ tọa phiên tòa xét xử anh hóa ra lại có một người anh kết hôn với một phụ nữ Afghanistan. Có lẽ thế nên ông ta tỏ vẻ khoan dung. Anh cũng không biết nữa.”
Khi Tariq mãn hạn tù vào đầu mùa đông năm 2000, Salim đưa cho anh địa chỉ và số điện thoại của anh trai ông. Người này tên là Sayeed.
“Ông ấy nói Sayeed là chủ một khách sạn nhỏ ở Murree,” Tariq nói. “Nó có hai mươi phòng và một phòng khách, một chỗ nhỏ để phục vụ khách du lịch. Ông ấy bảo anh cứ nói là ông ấy giới thiệu anh đến.”
Tariq thích Murree ngay khi mới vừa đặt chân xuống xe bus: những cây thông phủ đầy tuyết; không khí lạnh và khô; những ngôi nhà gỗ nhỏ làm từ ván khuôn, khói cuồn cuộn từ các ống khói.
Trong lúc gõ cửa nhà Sayeed, Tariq đã nghĩ nơi này không chỉ tách biệt hẳn với sự bất hạnh mà bất kỳ ai đến đây cũng trút bỏ được nỗi gian khổ và buồn đau bằng cách này hay cách khác, không thể tin được.
“Anh tự nhủ, đây là nơi để một người có thể bắt đầu lại từ đầu.”
Tariq được thuê làm người quét dọn và lo các công việc lặt vặt. Trong một tháng thử việc anh đã làm rất tốt, được trả một nửa tiền công và Sayeed đã chính thức nhận anh. Qua lời Tariq kể, Laila hình dung ra Sayeed, cô tưởng tượng ông có khuôn mặt hồng hào và đôi mắt ti hí, đang đứng ở cửa sổ phòng lễ tân theo dõi Tariq chẻ củi và xúc tuyết ra khỏi lối đi. Cô mường tượng cảnh ông khom người xuống chân Tariq và quan sát khi Tariq đang nằm dưới bồn rửa mặt để sửa đường ống nước bị rò rỉ. Cô hình dung cảnh ông đang kiểm tra sổ sách để xem có khoản tiền nào bị hụt hay không.
Túp lều sơ sài của Tariq được dựng bên cạnh cái chòi nhỏ của người đầu bếp. Người đầu bếp là một quả phụ già đáng kính tên là Adiba. Cả hai túp lều đều tách biệt khỏi khách sạn, được ngăn cách với tòa nhà chính bởi những cây hạnh rải rác, một cái ghế dài trong công viên, và một đài phun nước bằng đá có hình kim tự tháp, vào mùa hè, tiếng nước chảy róc rách suốt cả ngày. Laila hình dung ra Tariq trong túp lều của anh, nằm trên giường và nhìn cái thế giới bên ngoài phủ đầy lá cây qua khung cửa sổ.
Kết thúc giai đoạn thử việc, Sayeed nâng đủ lương cho Tariq và nói anh được ăn trưa miễn phí, cho anh một cái khoác len và lắp cho anh cái chân mới. Tariq kể anh đã òa khóc trước sự tốt bụng của ông.
Với tháng lương đầu tiên trong túi, Tariq đi đến thị trấn và mua Alyona.
“Bộ lông của nó trắng tinh,” Tariq nhó lại và cười. “Thỉnh thoảng vào buổi sáng, sau khi tuyết rơi cả đêm, khi nhìn ra cửa sổ ta chỉ thấy có đôi mắt và cái mõm của nó.”
Laila gật đầu. Lại một khoảng im lặng. Trên lầu, Zalmai lại bắt đầu nảy quả bóng vào tường.
“Em cứ nghĩ anh đã chết rồi,” Laila nói.
“Anh biết. Em nói với anh rồi mà.”
Giọng Laila vỡ òa. Cô phải đằng hắng và tự trấn tĩnh. “Một người đàn ông đến và thông báo tin về anh, ông ta quá tử tế… Em đã tin hắn, Tariq. Em ước gì mình đã không tin vào những điều đó, nhưng em đã tin. Và sau đó em cảm thấy cô đơn và sợ hãi. Nếu không, em đã không đồng ý cưới Rasheed. Em đã không…”
“Em không cần phải nói thế,” anh nói nhẹ nhàng, lảng tránh ánh mắt của cô. Trong cách anh nói không hề có sự trách móc, buộc tội. Không một lời đổ lỗi nào.
“Nhưng em phải nói. Bởi vì có một lý do khác lớn hơn khiến em phải lấy ông ta. Có một điều mà anh chưa biết, Tariq. Một người. Em phải nói với anh.”
—★—
“Con cũng ngồi đó và nói chuyện với hắn à?” Rasheed hỏi Zalmai.
Zalmai không nói gì cả. Laila nhìn thấy sự ấp úng và không nhất quyết trong mắt thằng bé, như thể nó chợt nhận ra là những gì nó vừa khai đã trở nên nghiêm trọng hơn nó nghĩ.
“Con trai, bố đang hỏi con đấy.”
Zalmai nuốt nước bọt. Nó nhìn hết chỗ này đến chỗ khác, “Con ở trên lầu, chơi với Mariam.”
“Thế còn mẹ con?”
Zalmai nhìn Laila đầy hối hận, nó như suýt khóc.
“Không sao đâu mà, Zalmai,” Laila nói. “Con cứ nói sự thật đi.”
“Mẹ… mẹ ở dưới nhà và nói chuyện với người đàn ông đó,” nó nói thều thào chẳng hơn gì tiếng thì thầm.
“Tôi hiểu rồi,” Rasheed nói. “Các người vào hùa với nhau.”
—★—
Tariq nói khi anh chuẩn bị đi, “Anh muốn gặp con bé. Anh muốn nhìn thấy nó.”
“Em sẽ sắp xếp,” Laila nói.
“Aziza, Aziza.” Anh cười, nhấm nháp từng chữ một. Bất cứ khi nào Rasheed thốt ra tên con gái cô, Laila đều cảm thấy một sự độc địa, gần như là thô tục. “Aziza. Cái tên thật đáng yêu.”
“Và con bé cũng thế. Rồi anh sẽ thấy.”
“Anh sẽ mong chờ từng phút.”
Đã gần mười năm trôi qua kể từ khi hai người gặp nhau lần cuối. Tất cả những lần họ gặp nhau trong cái ngõ hẻm, lén lút hôn nhau lại vụt qua tâm trí Laila. Cô tự hỏi bây giờ anh thấy cô như thế nào. Anh có còn thấy cô xinh đẹp không? Hay anh coi thường cô, khinh miệt cô, xem cô như một mụ đàn bà già xấu xí, đáng sợ và hay thay đổi? Gần mười năm rồi. Nhưng, trong phút chốc, khi cô đứng đó với Tariq trong ánh mặt trời, dường như bao nhiêu năm tháng ấy chưa từng có. Cái chết của bố mẹ cô, cuộc hôn nhân với Rasheed, những sự giết chóc, những loạt rocket, quân Taliban, những trận đòn, sự đói khát, thậm chí các con của cô, tất cả dường như chỉ là một giấc mơ, một con đường vòng kỳ dị, một khoảng lặng thời gian giữa buổi chiều hôm ấy và khoảnh khắc này.
Sau đó, Tariq thay đổi sắc mặt, anh trở nên nghiêm nghị. Cô hiểu biểu hiện này. Nó nhìn giống như khuôn mặt của anh vào ngày đó, khi họ còn là trẻ con, khi anh tháo chân giả của mình ra và đuổi đánh Khadim. Bây giờ anh với một tay chạm vào vành môi dưới của cô.
“Lão ta đã làm thế với em phải không?” anh hỏi một cách lạnh lùng.
Sự đụng chạm ấy làm Laila nhớ lại sự mê muội của buổi chiều hôm đó, khi họ đã cùng nhau tạo ra bé Aziza. Hơi thở của anh trên cổ cô, cơ hông của anh gập lại, ngực anh ép chặt xuống bầu ngục cô, tay họ đan xen vào nhau.
“Anh ước gì anh đã mang em theo,” Tariq gần nhu thì thầm.
Laila phải hạ ánh mắt xuống, cố gắng không khóc.
“Anh biết bây giờ em đã là người đàn bà có gia đình và là một bà mẹ. Vậy mà giờ anh lại ở đây, sau bao năm, sau tất cả những gì đã xảy ra, anh lại xuất hiện tại ngưỡng cửa nhà em. Có lẽ, như vậy thật không phải, không công bằng, nhưng anh đã đi một đoạn đường dài đến đây để gặp em, và… Ôi, Laila, anh ước gì anh chưa bao giờ bỏ em mà đi.”
“Đừng như thế,” cô thốt lên.
“Đáng lẽ anh nên cố gắng hơn. Anh nên cưới em khi anh có cơ hội. Như vậy thì mọi thứ đã khác đi rồi.”
“Đừng nói thế nữa. Em xin anh đấy. Đau xót lắm.”
Anh gật đầu, dợm bước về phía cô, rồi dừng lại. “Anh không muốn giả định một điều gì cả. Và anh không có ý định làm đảo lộn cuộc sống của em khi tự nhiên lù lù xuất hiện như thế này. Nếu em muốn anh ra đi, nếu em muốn anh trở lại Pakistan, hãy nói một lời thôi Laila. Anh sẽ làm vậy. Chỉ cần em bảo là anh sẽ đi. Anh sẽ không bao giờ làm phiền em nữa. Anh sẽ…”
“Không!” Laila nói, giọng sắc lạnh hơn dự định. Cô nhận ra rằng cô đang với lấy tay anh, đang níu chặt nó. Rồi cô buông tay ra. “Đừng đi, Tariq. Không. Hãy ở lại đây.”
Tariq gật đầu.
“Ông ta làm việc từ trưa đến tám giờ tối. Hãy quay lại vào chiều mai. Em sẽ dẫn anh đến chỗ Aziza.”
“Anh không sợ hắn ta, em biết mà.”
“Em biết. Hãy trở lại vào chiều mai.”
“Rồi sau đó?”
“Rồi sau đó… Em không biết nữa. Em phải nghĩ đã. Điều này thật…”
“Anh biết,” anh nói. “Anh hiểu mà. Anh xin lỗi. Anh xin lỗi về mọi chuyện.”
“Đừng như thế. Anh đã hứa là anh sẽ trở về. Và anh đã thực hiện.”
Mắt anh ngân ngấn nước. “Thật tốt biết bao khi được gặp lại em, Laila.”
Cô đứng yên, run rẩy nhìn anh bước đi. Cô nghĩ, hàng tập thư, và một cơn rùng mình khác lại chạy dọc người cô, có cái gì đó buồn bã và tuyệt vọng đang hiện hữu, nhưng cũng có gì đó háo hức, táo bạo và đầy hy vọng.
—
Mariam
Trên lầu, trong phòng của Mariam, Zalmai đang gập người lại. Nó đập đập trái bóng rổ cao su mới của mình vòng quanh trên sàn nhà một lúc rồi đập vào tường. Mariam bảo nó dừng lại nhưng nó biết bà chẳng có quyền gì cả nên cứ tiếp tục nảy trái bóng, đôi mắt bướng bỉnh nhìn chằm chằm vào mắt bà. Được một lúc, hai người đẩy chiếc xe đồ chơi của nó, một chiếc xe cứu thương với dòng chữ in đậm màu đỏ bên hông xe, họ đẩy đi đẩy lại khắp phòng.
Trước đó, khi họ gặp Tariq ở cửa, Zalmai giữ chặt quả bóng trước ngực và đút ngón tay cái vào mồm, nó không hay làm thế trừ khi sợ hãi. Nó nhìn Tariq với vẻ nghi ngờ.
“Người đàn ông đó là ai?” nó nói. “Cháu không thích ông ấy.”
Mariam đang định giải thích rằng ông ta và mẹ Laila đã lớn lên cùng với nhau, nhưng Zalmai đã ngắt lời và đòi bà quay cái xe cứu thương lại để cho tấm lưới phía trước thẳng về phía nó, và khi bà làm xong, nó lại đòi quả bóng.
“Nó ở đâu?” thằng bé nói. “Quả bóng mà Baba mua cho cháu đâu? Nó đâu rồi? Cháu muốn nó! Cháu muốn nó!” nó cao giọng và bắt đầu rít lên từng chữ.
“Vừa mới ở đây mà,” Mariam nói và thằng bé khóc, “Không, nó mất rồi, cháu biết mà. Cháu biết là nó biến mất rồi! Nó ở đâu? Nó ở đâu?”
“Đây,” bà nói, đoạn khều quả bóng từ dưới gầm tủ ra, nó đã lăn vào đó. Nhưng Zalmai cứ hét toáng lên và đấm thùm thụp, kêu khóc rằng không phải quả bóng đó, không thể là bóng của nó được vì quả bóng đã mất rồi, còn kia là quả bóng giả, quả bóng thật của nó đâu rồi? Ở đâu? Ở đâu ở đâu ở đâu?
Nó hét lên cho đến khi Laila phải chạy lên cầu thang để giữ nó, lay nó và đưa tay vuốt mó tóc xoăn dày sậm màu của nó, lau khô hai má ướt đẫm của nó và tắc tắc lưỡi vào tai nó.
Mariam đợi ở bên ngoài. Từ đầu cầu thang, bà chỉ nhìn thấy đôi chân dài của Tariq, một cái thật, một cái giả, anh mặc quần kaki, bước từng bước dài trên sàn nhà phòng khách không được phủ thảm. Bất chợt bà hiểu ra tại sao người đàn ông gác cổng tại Continental vào cái ngày bà và Rasheed đến đó gọi điện cho Jalil lại trông có vẻ quen thế. Lúc đó, ông ta đội mũ và đeo kính râm, vì thế bà đã không nhận ra sớm hơn. Nhưng bây giờ Mariam đã nhớ ra, khoảng chín năm trước, chính ông ta ngồi ở dưới nhà, lấy khăn tay lau trán và hỏi xin một cốc nước. Giờ đây, đủ loại câu hỏi đang chen lấn trong đầu bà: Có phải những viên thuốc sulfa cũng là một phần của trò bịp đó? Ai đã dàn dựng cuộc nói dối, cung cấp các chi tiết có sức thuyết phục đó? Và Rasheed đã trả bao nhiêu cho Abdul Sharif – nếu đó là tên hắn thật – để hắn đến và nhồi nhét vào đầu Laila câu chuyện về cái chết của Tariq?
—
Laila
Laila nhận ra khuôn mặt đang ở bên trên cô, cả hàm răng và mùi thuốc lá và đôi mắt báo trước rằng có chuyện chẳng lành. Cô cũng lờ mờ nhận ra sụ hiện diện của Mariam đằng sau khuôn mặt ấy, cánh tay bà đang buông thõng xuống. Bên trên họ là trần nhà, Laila bị hút vào cái trần nhà đó, những mảng đen mốc meo lan rộng ra như vết mục vấy trên áo, vết nứt trên tấm thạch cao nhìn giống như điệu cười lãnh đạm hay một cái chau mày, tùy thuộc việc nhìn từ hướng nào. Laila nhớ lại những lần cô buộc miếng giẻ rách vào đầu cây chổi và quét mạng nhện trên trần nhà. Cô và Mariam đã quét sơn trắng lên nó ba lần. Vết nứt bây giờ không còn là nụ cười nữa mà là một cái liếc mắt đểu cáng đầy chế giễu. Và nó lùi ra xa dần. Cái trần nhà đang co nhỏ lại, rồi bay bổng lên cao, xa dần khỏi cô và tới một nơi mơ hồ thăm thẳm. Nó cứ cao dần cho đến khi kích thước của nó chỉ bằng một con tem, trắng và sáng, mọi thứ xung quanh nó bị xóa sạch bởi bóng tối chớp lòa. Trong bóng tối, mặt của Rasheed giống như một vết đen ở mặt trời.
Trước mắt cô bây giờ đang lập lòe những đốm sáng nhỏ, giống như những ngôi sao bạc nổ tung. Những khối hình học kỳ lạ hình thành trong ánh sáng, hình con sâu, hình quả trứng, di chuyển lên xuống, nghiêng hẳn sang một bên, tan chảy vào nhau, vỡ ra, biến dạng thành một thứ khác, sau đó mờ dần, tan biến trong bóng đêm.
Những giọng nói bị bóp nghẹn và xa vời.
Đằng sau mí mắt cô, khuôn mặt của hai đứa con lại lóe lên rồi nhiễu loạn. Aziza, lanh lợi và sâu sắc, hiểu biết, hay giữ kẽ. Zalmai thì nhìn vào bố nó với sự háo hức đến run rẩy.
Rồi mọi chuyện sẽ kết thúc như vậy, Laila nghĩ. Một kết cục đáng tiếc.
Nhưng bóng tối bắt đầu tan đi. Cô có cảm giác như mình dang bay lượn, đang được nhấc bổng lên. Trần nhà chầm chậm quay lại, giãn ra, bây giờ Laila đã có thể nhìn thấy vết nứt và nó lại là nụ cười ngu ngốc như cũ.
Ai đó đang lay nhẹ cô. Em có ổn không? Trả lời chị đi, em có làm sao không? Laila thoáng thấy gương mặt của Mariam, hằn những vết trầy xước và đầy vẻ lo lắng.
Laila cố gắng thở. Cổ họng cô bỏng rát. Cô cố một hơi nữa. Lần này thậm chí còn rát hơn, không chỉ cổ họng mà cả lồng ngực nữa. Và sau đó cô ho, thở khò khè. Hổn hển. Nhưng đang thở. Cái tai còn nghe được của cô ù đi.
—★—
Thứ đầu tiên đập vào mắt cô khi cô ngồi dậy là Rasheed. Lão ta đang nằm ngửa, nhìn trừng trừng vào khoảng không vô định, miệng há hốc như miệng cá. Một chút nước bọt, màu hồng phai, chảy từ miệng lão ta xuống gò má. Trước quần của lão ta bị ướt. Cô nhìn trán lão.
Rồi cô nhìn thấy cái xẻng.
Một tiếng rên bật ra từ miệng cô. “Ôi,” cô nói, run rẩy và thều thào, “Ôi, Mariam.”
—★—
Laila bước từng bước, rên rỉ và đập hai tay vào nhau trong khi Mariam ngồi sát cạnh Rasheed, hai tay bà thu vào trong lòng, bình thản và bất động. Mariam không nói gì trong một lúc lâu.
Miệng Laila khô khốc và cô đang lắp bắp vài điều gì đó, toàn thân run bần bật. Cô không muốn nhìn vào Rasheed đang há hốc mồm, mắt trợn tròn, không muốn nhìn vào vũng máu đông lại ở chỗ lõm trên xương bả vai của lão.
Bên ngoài, ánh sáng nhạt dần, bóng tối đang bao trùm. Trong thứ ánh sáng ấy, gương mặt của Mariam nhìn gầy guộc và buồn rầu, nhưng dường như bà không bị kích động hay sợ hãi, bà chỉ lo lắng, đầy ưu tư, và tập trung đến nỗi khi một con ruồi đậu trên cằm, bà cũng không hề để ý. Bà chỉ ngồi đó với cái môi dưới bĩu ra, vẻ thường thấy ở bà mỗi khi bà đang mải mê suy nghĩ.
Cuối cùng, bà nói, “Ngồi xuống, Laila thân yêu.”
Laila ngoan ngoãn làm theo.
“Chúng ta phải chuyển lão đi. Không được cho Zalmai thấy cảnh này.”
—★—
Mariam lấy chìa khóa phòng ngủ trong túi áo của Rasheed trước khi họ dùng ga giường quấn lão lại. Laila nắm chân lão ta, phía dưới đầu gối, Mariam thì túm lấy cánh tay lão. Họ cố nhấc lão lên nhưng lão quá nặng, cuối cùng họ kéo lê lão. Khi họ kéo cái xác qua cửa trước và tiến vào sân, chân của Rasheed mắc vào khung cửa vẹo sang một bên. Họ phải lùi lại và cố lần nữa, rồi có cái gì đó đấm thình thịch trên lầu và chân Laila khuỵu xuống. Cô thả Rasheed ra. Cô sụp xuống đất, khóc nức nở và run rẩy. Mariam phải tiến lại chỗ cô, đặt tay lên hông cô và nói rằng cô phải cố gắng cùng với bà. Rằng việc gì xảy ra thì đã xảy ra rồi.
Sau một lúc, Laila đứng dậy và lau nước mắt, họ khiêng Rasheed ra đến sân mà không gặp sự cố nào nữa. Họ đưa lão đến kho dụng cụ. Họ đặt lão đằng sau bàn làm việc, trên đấy có cái cưa, những chiếc đinh, một cái đục, búa và một mảnh gỗ hình trụ mà Rasheed định đẽo thành cái gì đó cho Zalmai, nhưng lão không còn cơ hội để làm nữa.
Sau đó họ quay vào nhà. Mariam rửa sạch tay rồi vuốt lại tóc, hít một hơi thật sâu và thở ra. “Để chị băng vết thương cho em. Em bị trầy trụa hết rồi, Laila ạ.”
—★—
Mariam nói bà cần cả đêm để suy nghĩ về mọi chuyện. Để liên kết các ý nghĩ lại với nhau và vạch ra một kế hoạch.
“Phải có một cách,” bà nói, “và chị phải tìm ra nó.”
“Chúng ta phải rời khỏi đây! Chúng ta không thể ở đây được,” Laila nói bằng giọng đứt quãng, khàn khàn. Bất giác cô nghĩ về âm thanh mà cái xẻng tạo ra lúc nó đập vào đầu Rasheed, toàn thân cô giật nảy về phía trước. Nỗi sợ hãi dâng đầy trong ngực.
Mariam kiên nhẫn đợi cho đến khi Laila cảm thấy dễ chịu hơn. Sau đó bà để Laila nằm xuống và vuốt ve mái tóc cô trải trên vạt áo của bà. Bà nói cô đừng lo, mọi thứ sẽ ổn thôi. Bà nói họ sẽ bỏ đi – bà, Laila, bọn trẻ và cả Tariq nữa. Họ sẽ cùng nhau rời khỏi căn nhà này, khỏi cái thành phố đầy hằn thù này. Rời khỏi cả cái đất nước đáng thất vọng này nữa, Mariam vừa nói vừa luồn tay vào tóc Laila, để đi đến một nơi thật xa và an toàn, nơi mà không ai có thể tìm thấy họ, nơi mà họ có thể bỏ lại quá khứ và tìm được nơi ẩn náu.
“Nơi nào đó có cây,” bà nói. “Đúng. Thật nhiều cây.”
Rồi bà tiếp tục tưởng tượng, họ sẽ sống trong một ngôi nhà nhỏ ven thị trấn nào đó mà họ chưa bao giờ nghe nói đến, hay trong một ngôi làng xa xôi, nơi có con đường hẹp và chưa được trải đá, khuất sau những tán cây và bụi rậm. Có thể sẽ có một con đường mòn, một con đường mòn dẫn đến đồng cỏ, nơi bọn trẻ có thể vui đùa, hay có thể là con đường trải đá dẫn đến một cái hồ đầy cá hồi bơi lội và đám sậy thò trên mặt nước. Họ sẽ nuôi cừu và gà, họ sẽ cùng nhau làm bánh mì và dạy bọn trẻ đọc. Họ sẽ bắt đầu cuộc sống mới, cuộc sống ẩn dật và yên bình, ở đó những gánh nặng mà họ phải chịu đựng sẽ được trút bỏ, họ sẽ xứng đáng với niềm hạnh phúc trọn vẹn và thành công giản dị mà họ tìm thấy.
Laila thì thầm khích lệ. Cô thấy được đó sẽ là một cuộc sống đầy rẫy khó khăn, nhưng là những khó khăn đẫm niềm vui sướng mà họ có thể tự hào, sở hữu, nâng niu như vật gia bảo. Giọng nói nhẹ nhàng của Mariam lại vang lên, khiến cô thấy thoải mái. Bà nói, Có một cách, vào sáng mai, Mariam sẽ nói cho cô biết cần phải làm gì và họ sẽ làm như thế, và có thể giờ này ngày mai họ đã trên đường đến với cuộc sống mới, một cuộc sống phong phú với nhiều cơ hội, với niềm vui và những khó khăn đang chờ đón. Laila thấy biết ơn vì Mariam đang làm chủ tình thế, sáng suốt và bình tĩnh, bà có thể suy nghĩ suy thấu suốt cho cả hai. Tâm trí của cô bây giờ quá hoảng loạn, một mớ hỗn độn, rối bời.
Mariam đứng dậy. “Bây giờ em nên quay lên với con trai đi.” Laila chưa từng thấy gương mặt nào lại thể hiện sự mạnh mẽ đến nhường ấy.
—★—
Laila tìm thấy thằng bé trong bóng tối, co tròn trên tấm nệm, phía Rasheed vẫn nằm. Cô chui vào chăn, nằm bên cạnh cậu bé và kéo chăn đắp lên người cả hai.
“Con ngủ rồi à?”
Thằng bé nói mà không quay lại nhìn cô, “Con không ngủ được. Bố vẫn chưa đọc lời cầu nguyện Babaloo với con.”
“Chắc tối nay mẹ sẽ đọc với con.”
“Mẹ không thể đọc như bố được.”
Cô siết chặt bờ vai nhỏ bé của nó, hôn lên gáy nó. “Mẹ sẽ cố.”
“Bố đâu rồi?”
“Bố đã đi xa rồi,” Laila nói, cổ họng cô nghẹn lại.
Và đây là lần đầu tiên cô nói một lời dối trá tồi tệ, khủng khiếp như thế. Laila tự hỏi mình sẽ còn phải lặp lại những lời này thêm bao nhiêu lần nữa đây? Zalmai sẽ bị lừa dối thêm bao nhiêu lần nữa đây? Cô hình dung ra cảnh Zalmai vui mừng chạy ra đón Rasheed khi ông ta về nhà và Rasheed nhấc nó lên mà quay vòng vòng cho đến khi chân Zalmai bay lên cao, cả hai cười khúc khích khi Zalmai chệnh choạng như bị say rượu. Cô nghĩ về những trò chơi vui nhộn và tiếng cười huyên náo của họ, cái kiểu liếc mắt kín đáo với nhau của họ.
Sự hổ thẹn và nỗi đau buồn dành cho đứa con trai vây chặt lấy Laila.
“Bố đã đi đâu?”
“Mẹ không biết, con yêu.”
Khi nào Baba về? Baba có mang quà cho con khi trở về không?
Cô đọc lời cầu nguyện với Zalmai. Hai mươi mốt lần. Bismallah-e-rahman-erahim* – mỗi lần cho một đốt tay của bảy ngón tay. Cô nhìn thằng bé chụm hai bàn tay lại trước mặt và thối vào, sau đó đặt mu bàn tay lên trán và làm một cử động vứt đi, nó thì thầm, Babaloo, đi đi, đừng tìm đến Zalmai, thằng bé không có chuyện gì với ngươi cả. Babaloo, đi đi. Tiếp theo, để kết thúc, họ nói Allah-u-akbar ba lần. Và sau đó, rất lâu sau đó, Laila bị giật mình bởi giọng nói bị tắc lại: Có phải tại con mà Baba bỏ đi không? Tại những gì con đã nói, về mẹ và người đàn ông dưới lầu?
Cô ngả người lên nó, định cam đoan lại lần nữa, định nói rằng Không phải tại con, Zalmai. Không. Không phải lỗi của con. Nhưng thằng bé đã thiếp đi, ngực nó đã phập phồng.
—★—
Khi Laila đi ngủ, đầu óc cô tê dại, mù mịt, không thể suy nghĩ liên tục nữa. Nhưng khi cô tỉnh dậy do tiếng gọi cầu nguyện buổi sáng, hầu như sự mù mờ đã biến mất.
Cô ngồi dậy và nhìn Zalmai ngủ một lúc, lòng bàn tay nó khum lại để dưới cằm. Laila mường tượng ra Mariam đã lén vào phòng vào giữa đêm, khi cô và Zalmai đã ngủ, nhìn họ và lên kế hoạch trong đầu.
Laila rời khỏi giường. Cô phải cố gắng để đứng vững. Toàn thân cô đau nhức, cổ, vai, lưng, cánh tay, bắp đùi, mọi vết cắt hằn sâu của cái khóa thắt lưng của Rasheed. Hơi nhăn mặt, cô lặng lẽ rời khỏi phòng ngủ.
Trong phòng Mariam, ánh sáng chỉ là một bóng xám đậm, kiểu ánh sáng thường khiến cho Laila liên tưởng tới những con gà trống đang gáy sáng và hạt sương lăn trên lá cỏ. Mariam đang ngồi ở góc phòng, trên tấm thảm cầu nguyện đối diện với cửa sổ. Laila chậm rãi hạ thấp người, ngồi xuống sàn nhà, trước mặt bà.
“Sáng nay em nên đi thăm Aziza,” Mariam nói.
“Em biết chị định làm gì.”
“Đừng đi bộ. Hãy đi xe bus, em sẽ trà trộn vào đấy. Đi taxi dễ gây chú ý lắm. Chắc chắn em sẽ bị chặn lại nếu đi một mình.”
“Những gì chị hứa tối qua…”
Laila không thể nói dứt câu. Những hàng cây, cái hồ, ngôi làng không tên. Cô nhìn thấy một ảo tưởng. Một lời nói dối đáng yêu làm dịu bớt nỗi đau. Giống như lời thủ thỉ với một đứa trẻ khốn khổ.
“Chị sẽ làm điều đó,” Mariam nói. “Chị sẽ làm điều đó vì em, Laila yêu quý.”
“Em không muốn bất kỳ thứ gì trong số đó nếu không có chị.” Laila thốt lên.
Mariam cười mệt nhọc.
“Em muốn mọi thứ như chị đã nói, Mariam, tất cả chúng ta sẽ cùng đi với nhau, chị, em, bọn trẻ. Tariq có một chỗ ở Pakistan. Chúng ta có thể trốn ở đấy một thời gian, chờ cho mọi chuyện lắng xuống.”
“Không thể được,” Mariam kiên nhẫn nói, như bố mẹ nói với một đứa trẻ ngoan nhưng đang đi sai đường.
“Chúng ta sẽ chăm sóc nhau,” Laila nói, nấc lên từng tiếng, mắt cô ướt đẫm. “Giống như chị nói. Không. Em sẽ chăm sóc chị để đền đáp lại chị.”
“Ôi, Laila yêu quý.”
Laila tiếp tục lảm nhảm. Cô kỳ kèo. Cô hứa hẹn. Cô nói cô sẽ làm tất cả mọi việc, cả nấu ăn nữa. “Chị sẽ không phải làm gì cả. Không bao giờ. Chị nghỉ ngơi, ngủ, làm vườn. Bất cứ thứ gì chị thích, chị chỉ việc yêu cầu và em sẽ lấy cho chị. Đừng làm thế Mariam. Đừng bỏ em. Đừng làm tan vỡ trái tim Aziza.”
“Chúng chặt tay người ta nếu người ta ăn cắp bánh mì,” Mariam nói. “Em nghĩ chúng sẽ làm gì khi chúng tìm thấy xác người chồng đã chết và hai người vợ mất tích?”
“Sẽ không ai biết cả,” Laila thở mạnh. “Sẽ không ai tìm thấy chúng ta.”
“Chúng sẽ tìm ra. Chỉ là sớm hay muộn thôi. Bọn chúng là chó săn mà.” Giọng Mariam nhỏ nhẹ, cẩn trọng; nó làm cho những lời hứa của Laila trở nên không tưởng, bịa đặt, ngốc nghếch.
“Mariam, xin chị…”
“Khi chúng tìm thấy chúng ta, chúng sẽ kết tội em ngang chị. Cả Tariq nữa. Chị không muốn hai người phải sống trong cảnh lén lút, trốn chạy. Chuyện gì sẽ xảy ra với các con của em nếu em bị bắt?”
Mắt Laila ướt đẫm, nhức nhối.
“Sau đó ai sẽ chăm sóc chúng? Quân Taliban à? Hãy đứng ở cương vị người mẹ mà suy nghĩ, Laila. Hãy suy nghĩ với cương vị là một người mẹ. Chị sẽ làm thế.”
“Em không thể.”
“Em phải như thế, Laila thân yêu ạ.”
“Thật không công bằng,” Laila thốt lên.
“Nhưng như thế là công bằng đấy. Đến đây. Hãy nằm xuống đây.”
Laila bò đến bên bà và lại đặt đầu mình trên vạt áo của Mariam. Cô nhớ những buổi chiều họ bên nhau, tết tóc cho nhau, Mariam kiên nhẫn lắng nghe những suy nghĩ ngẫu hứng và những câu chuyện bình thường của cô với vẻ biết ơn, với biểu hiện của một người vừa được ban tặng một đặc ân đáng thèm khát nhất.
“Công bằng mà,” Mariam nói. “Chị đã giết chồng của chúng ta. Chị đã cướp đi bố của con em. Thật không phải nếu chị chạy trốn. Chị không thể. Thậm chí nếu họ không bao giờ bắt được chúng ta, chị cũng sẽ không bao giờ…” Môi bà run lên. “Chị sẽ không bao giờ chạy trốn được khỏi nỗi buồn của con trai em. Làm sao chị có thể nhìn vào mắt nó? Làm sao chị có thể bắt mình nhìn nó được, Laila thân yêu?”
Mariam xoay xoay một sợi tóc của Laila, gỡ một lọn bị rối.
“Với chị, mọi chuyện đã kết thúc. Chị chẳng mong muốn gì hơn cả. Tất cả những gì chị ước ao từ khi còn là một đứa con gái, em đã mang lại cho chị. Em và bọn trẻ đã làm chị rất hạnh phúc. Laila, mọi chuyện ổn mà. Thế là đủ rồi. Đừng buồn phiền.”
Laila không thể tìm được một câu trả lời hợp lý cho bất cứ điều gì mà Mariam nói. Nhưng cô vẫn nói huyên thuyên, rời rạc, trẻ con, về những cây ăn trái đang chờ được trồng và những con gà đang chờ được nuôi, về những ngôi nhà nhỏ ở những thành phố không tên và những cuộc đi bộ đến hồ đầy cá hồi. Và, cuối cùng, khi mà ngôn từ đã cạn, nước mắt vẫn không thể ngừng rơi, tất cả những gì Laila có thể làm là đầu hàng và khóc nức nở như đứa trẻ bị dồn ép bởi những lý luận không thể bác bỏ của người lớn. Tất cả những gì cô có thể làm là cuộn tròn mình lại và vùi mặt lần cuối vào hơi ấm nồng nàn của vạt áo Mariam.
—★—
Buổi sáng hôm đó, Mariam gói cho Zalmai một bữa ăn nhẹ với bánh mì và quả sung khô. Bà cũng bọc cho Aziza vài quả sung và mấy cái bánh quy có hình con vật. Bà đặt tất cả trong một túi giấy và đưa cho Laila.
“Hãy hôn Aziza giùm chị nhé,” bà nói. “Hãy nói với nó rằng nó là noor* trong mắt chị, là vua trong tim chị. Em sẽ làm thế hộ chị chứ?”
Laila gật đầu, môi cô mím chặt lại.
“Hãy đón xe bus như chị nói và cúi đầu thấp xuống.”
“Khi nào em sẽ gặp chị, Mariam? Em muốn gặp chị trước khi em ra làm chứng. Em sẽ nói với họ chuyện gì đã xảy ra. Em sẽ giải thích đó không phải là lỗi của chị. Đó là do chị phải làm thế. Họ sẽ hiểu, phải không, Mariam? Họ sẽ hiểu.”
Mariam nhìn cô dịu dàng.
Bà ngồi xổm xuống ngang tầm mắt với Zalmai. Thằng bé đang mặc áo sơ mi đỏ, quần kaki đã sờn và đôi giày cao bồi cũ mà Rasheed mua cho nó từ Mandaii. Hai tay nó giữ khư khư quả bóng mới. Mariam đặt một nụ hôn trên má thằng bé.
“Bây giờ con đã là một cậu bé ngoan, mạnh mẽ,” bà nói. “Hãy chăm sóc mẹ con thật tốt nhé.” Bà ôm mặt thằng bé. Nó rụt lại nhưng bà vẫn giữ. “Ta xin lỗi, Zalmai. Hãy tin là ta rất tiếc về tất cả niềm đau và nỗi buồn của con.”
Laila cầm tay Zalmai khi họ đi dọc xuống con đường. Ngay trước khi họ rẽ ở góc đường, Laila quay lại nhìn và thấy Mariam đứng ở cửa. Mariam quấn một cái khăn choàng trắng trên đầu, mặc áo len màu xanh sẫm có hàng cúc phía trước và quần cô tông trắng. Một lọn tóc xám buông xõa xuống trán bà. Vài tia nắng chiếu xuyên qua mặt và vai bà. Mariam đang vẫy tay.
Họ rẽ ở góc đường, và Laila không bao giờ gặp lại Mariam nữa.
—
Mariam
Dường như sau bấy nhiêu năm, Mariam đã trở lại kolba.
Nhà tù cho nữ phạm nhân Walayat là một tòa nhà vuông, u ám, nằm trên phố Shar-e-Nau, gần phố Gà. Nó nằm ở chính giữa, xung quanh là khu dành cho các tù nhân nam. Tách biệt Mariam và các nữ phạm nhân với những người đàn ông xung quanh là cánh cửa khóa chặt. Mariam đếm thấy có năm phòng giam. Đó là những căn phòng tồi tàn, bẩn thỉu, tường thì bong tróc, cửa sổ thì nhỏ xíu chỉ đủ nhìn ra sân. Mặc dù cửa sổ có song sắt nhưng cửa chính thông giữa các phòng lại không khóa nên các nữ tù nhân có thể tự do đi lại và ra sân khi họ thích. Cửa sổ không có kính, cũng chẳng có rèm, lính gác Taliban bên ngoài có thể thoải mái nhìn vào bên trong từng phòng giam. Một vài nữ tù nhân phàn nàn về việc lính gác hút thuốc ngoài cửa sổ rồi nhìn một cách dâm đãng vào trong, mắt thì đỏ lừ, nụ cười ác như sói, chúng thủ thỉ với nhau những trò đùa xấu xa về các nữ tù nhân. Chính vì thế, các nữ tù nhân che mặt cả ngày và chỉ bỏ ra lúc trời tối, khi cửa chính đã được khóa và bọn lính gác đã đi làm nhiệm vụ.
Ban đêm, phòng giam của Mariam cùng năm nữ tù nhân khác và bốn đứa trẻ nữa tối om. Vào những tối có điện, họ kiệu Naghma, một cô gái lùn, ngực lép với mái tóc xoăn đen, lên tận trần nhà. Trên đó có sợi dây đã tróc vỏ. Naghma dùng tay quấn cái dây vòng quanh đui đèn để nối điện cho nó.
Phòng vệ sinh bé tin hin, nền xi măng bong hết. Trên nền có cái lỗ hình chữ nhật, dưới đáy lỗ là một đống phân. Ruồi nhặng bay vo vo quanh cái lỗ ấy.
Ở giữa nhà tù có khoảng sân hình chữ nhật và giữa sân có cái giếng. Không có đường thoát nước cho cái giếng, chính vì thế cái sân lúc nào cũng ngập, mùi nước hôi thối bốc lên. Các dãy chỗ để giặt giũ chạy chéo nhau trên sân, ngổn ngang từng đống tất và khăn lót được giặt bằng tay. Sân là nơi các tù nhân được gặp người tới thăm, nơi để họ nấu cơm từ gạo mà người thân mang đến vì nhà tù không cấp thức ăn. Sân cũng là nơi chơi đùa của bọn trẻ – Mariam nhận thấy có nhiều đứa trẻ được sinh ra ở chính nhà tù Walayat này, chúng chưa bao giờ được ngắm nhìn thế giới bên ngoài những bức tường kia. Mariam ngắm nhìn bọn trẻ đuổi bắt nhau, nhìn những bàn chân không giày dép của chúng nhuốm đầy bùn. Cả ngày chúng chỉ chạy loanh quanh, chơi trò chơi, bất chấp mùi phân hay nước tiểu tràn ngập khắp nơi và ám vào cơ thể chúng, và cũng chẳng để ý đến lính gác Taliban cho đến khi bị họ đánh.
Mariam không có ai tới thăm. Đó là điều đầu tiên và duy nhất mà bà đề nghị quan chức Taliban ở đây. Không có ai tới thăm cả.
—★—
Không một phụ nữ nào trong phòng giam của Mariam vào tù vì phạm tội, tất cả họ phải ở đây chỉ vì tội duy nhất là “trốn nhà”. Chính vì thế, Mariam được mọi người biết đến, trở thành kiểu như một người nổi tiếng ở đây. Những phụ nữ khác nhìn bà với con mắt kính nể, gần như là khiếp sợ. Họ nhường chăn cho bà. Họ còn tranh nhau nhường thức ăn cho bà.
Naghma là người ngưỡng mộ Mariam nhất, cô luôn bám riết lấy tay bà và đi theo bà ở khắp mọi nơi. Naghma là người luôn thích chia sẻ nỗi bất hạnh với người khác dù đó là tâm sự của cô hay của một ai đó. Cô kể rằng ông bố của cô đã hứa gả cô cho gã thợ may trên cô những hơn ba mươi tuổi.
“Ông ta hôi như cú, răng còn ít hơn cả ngón tay,” Naghma kể về gã thợ may.
Cô đã cố bỏ trốn tới Gardez cùng một chàng trai mà cô yêu, con trai một vị giáo sĩ. Họ hầu như mới chỉ vừa bước chân ra khỏi địa phận Kabul. Khi họ bị bắt và gửi trở lại, con trai vị giáo sĩ đã bị đánh đập dã man, cuối cùng anh ta không thể chịu nổi và khai rằng chính Naghma đã dùng sức hút đàn bà để cám dỗ anh ta, rằng cô đã bỏ bùa anh ta. Và anh ta hứa sẽ quay lại chú tâm vào việc học kinh Koran. Họ đã thả gã con trai của giáo sĩ ra. Còn Naghma thì bị kết án năm năm tù giam.
Cô nói việc mình phải ở tù cũng tốt thôi. Bố cô đã thề rằng khi nào cô được thả, ông ta sẽ cầm dao cắt cổ cô.
Nghe Naghma kể, Mariam nhớ đến thứ ánh sáng mờ nhạt của những ngôi sao băng, nhớ đến sợi mây hồng vắt ngang ngọn núi Safid-koh vào một buổi sáng từ cách đây rất lâu rồi, khi mẹ Nana nói với bà rằng, “Giống như chiếc kim la bàn luôn chỉ hướng Bắc, ngón tay buộc tội của người đàn ông luôn trỏ vào người phụ nữ. Luôn luôn. Con hãy nhớ lấy điều ấy, Mariam.”
—★—
Phiên tòa xử Mariam đã diễn ra tuần trước. Không có hội đồng xét xử, không có ai dự, không thẩm tra lại chứng cứ, không có kháng cáo. Mariam cũng từ chối quyền được có nhân chứng. Phiên tòa diễn ra chỉ vỏn vẹn không quá mười lăm phút.
Chủ tọa là vị quan tòa ngồi giữa, một người Taliban trông rất cáu bẳn. Ông ta hốc hác, nước da vàng nhăn nhúm và bộ râu xoăn đỏ. Cặp kính ông ta đeo khiến hai con mắt của ông ta bị phóng to lên, làm lộ ra tròng trắng màu vàng ệch. Cổ ông ta dường như quá mảnh không đỡ nổi chiếc khăn turban đồ sộ quấn trên đầu.
“Bà thừa nhận điều đó phải không, hamshira?” ông ta hỏi lại với giọng mệt mỏi.
“Tôi thừa nhận,” Mariam nói.
Ông ta gật đầu. Mà cũng có thể là không. Thật khó nói; ông ta có kiểu rung mạnh tay và đầu khiến Mariam nhớ ngay đến sự run rẩy của Giáo sĩ Faizullah. Khi uống trà, ông ta không cầm cái tách lên. Ông ta ra hiệu cho người đàn ông có bờ vai vuông vức ngồi bên trái và anh này kính cẩn đưa tách trà đến đặt vào tận môi ông ta. Sau đó, vị chủ tọa Taliban từ từ nhắm mắt lại – động tác không lời nhưng trang nhã, thể hiện sự biết ơn.
Mariam cảm thấy ông ta có điều gì đó khiến người khác yên lòng. Khi nói, ở ông ta toát lên vẻ khôn ngoan và rất bình thản. Ông ta cười nhẫn nại và không nhìn Mariam một cách khinh miệt. Ông ta không nhắm vào bà với vẻ cay nghiệt hay buộc tội mà nói với giọng hoàn toàn nhẹ nhàng như thể để xin lỗi.
“Bà có hiểu hết những điều bà đang nói không?” một người Taliban khác có khuôn mặt xương xẩu ngồi bên phải, không phải là người đưa trà, hỏi Mariam. Đây là người trẻ nhất trong ba vị quan tòa. Ông ta nói nhanh, tự tin, dứt khoát và đầy kiêu ngạo. Ông ta bực mình vì Mariam không thể nói tiếng Pashto. Ấn tượng của Mariam về ông ta là hình ảnh của một người đàn ông trẻ thích gây sự, thích thú với quyền lực của mình, nhìn chỗ nào cũng thấy tội lỗi và nghĩ rằng quyền thiên bẩm của mình là phán xử người khác.
“Tôi rất hiểu,” Mariam trả lời.
“Tôi nghi ngờ điều đó,” ông này tiếp tục. “Thượng đế đã tạo ra chúng ta khác nhau, đàn bà các người và đàn ông chúng tôi. Bộ não của chúng ta cũng khác nhau. Bà không thể nghĩ được giống như chúng tôi. Các bác sĩ phương Tây và khoa học của họ đã chứng minh điều đó. Đó chính là lý do chúng tôi chỉ yêu cầu một người đàn ông làm nhân chứng nhưng lại cần đến hai người đàn bà.”
“Tôi thừa nhận là tôi đã làm thưa ông. Nhưng nếu tôi không làm vậy thì hắn ta sẽ giết chết cô ấy. Hắn ta siết cổ cô ấy.”
“Thì bà nói vậy. Nhưng có cái gì mà đàn bà không thề thốt được đâu.”
“Đó là sự thật.”
“Bà có ai làm chứng không? Ngoài ambagh của bà?”
“Tôi không có,” Mariam đáp.
“Ồ,” ông ta khoát tay và cười khẩy.
Rồi người Taliban ốm yếu tiếp lời.
“Tôi có một bác sĩ ở Peshawar,” ông ta nói. “Một người bạn Pakistan trẻ tuổi và tốt bụng. Tôi tới khám chỗ anh ta một tháng trước và gặp lại tuần vừa rồi. Tôi nói, hãy nói cho tôi biết sự thật, anh bạn, và anh ta nói với tôi, ba tháng, thưa Giáo sĩ, có thể nhiều nhất là sáu tháng, dĩ nhiên, tùy theo ý Thượng đế.”
Ông ta kín đáo gật đầu với người đàn ông vai vuông ngồi bên trái và lại nhấp một ngụm trà khác khi tách trà được mang tới. Ông ta lau miệng bằng mu bàn tay run run. “Tôi chẳng sợ gì khi từ bỏ cuộc sống này, đứa con trai duy nhất của tôi đã chết cách đây năm năm, cuộc sống chỉ toàn nỗi buồn chồng chất nỗi buồn đến nỗi giờ chẳng còn phải cảm thấy buồn gì nữa. Không. Tôi tin rằng tôi sẽ ra đi một cách vui vẻ khi đến lúc.”
“Điều mà tôi sợ, hamshira ạ, là ngày mà Thượng đế gọi tôi đến và hỏi, Tại sao con lại không làm theo những gì ta nói? Tại sao con lại không tuân theo luật lệ của ta? Tôi sẽ giải thích như thế nào với Người đây, hamshira? Tôi sẽ biện hộ thế nào cho việc đã không nghe theo mệnh lệnh của Người? Tất cả những gì mà tôi có thể làm, tất cả những gì mà bất kỳ ai trong chúng ta có thể làm, trong thời gian mà chúng ta đã được ban tặng, là mãi mãi tuân theo những luật lệ mà Người đã đặt ra. Khi tôi càng nhìn rõ cái kết thúc của mình, hamshira ạ, càng đến gần cái ngày mà tôi phải ra đi, thì tôi càng phải cứng rắn hơn để làm theo lời của Người. Cho dù nó đau đớn thế nào.”
Ông ta dịch người trên tấm đệm rồi nhăn mặt.
“Tôi tin bà khi bà nói chồng mình là một người đàn ông có tính khí không thể chấp nhận được,” ông ta lại nói tiếp và nhìn Mariam qua cặp kính, cái nhìn vừa nghiêm nghị vừa đầy lòng trắc ẩn. “Nhưng tôi không thể giúp được bà, sự độc ác trong hành động của bà khiến tôi bối rối, hamshira ạ. Tôi lấy làm buồn lòng vì những gì mà bà đã làm; tôi lấy làm buồn lòng khi hình dung ra cậu con trai nhỏ của ông ấy đang khóc thương ông ấy ở trên tầng khi bà làm điều đó.
“Tôi đã quá mệt và sắp chết đến nơi rồi và tôi cũng muốn nhân từ lắm. Tôi muốn tha thứ cho bà lắm chứ. Nhưng khi Thượng đế gọi tôi tới và nói, Không phải con là người có quyền được tha thứ, Giáo sĩ, lúc đó tôi có thể nói được gì?”
Đồng nghiệp của ông ta gật đầu đồng tình và nhìn ông ta với con mắt ngưỡng mộ.
“Có điều gì đó mách bảo với tôi rằng bà không phải là người đàn bà độc ác, hamshira, nhưng việc bà đã làm là hành động độc ác. Và bà phải trả giá cho những gì mình đã gây ra. Luật Hồi giáo Shari’a đã ghi rõ tội này. Trong đó viết rằng tôi phải gửi bà đến nơi mà chính tôi cũng sẽ sớm tới gặp bà.
“Bà có hiểu không, hamshira?”
Mariam cúi đầu nhìn xuống tay mình. Bà nói bà đã hiểu.
“Chỉ có Đấng toàn năng Allah mới tha thứ được cho bà.
Trước khi Mariam bị dẫn đi, họ đưa cho bà một tờ giấy, bảo bà ký vào bên dưới lời khai của bà và lời kết tội của các giáo sĩ. Ba vị chủ tọa người Taliban theo dõi Mariam viết tên mình, chữ meem, chữ reh, chữ yah và chữ meem, bà nhớ lần cuối cùng bà ký tên mình là hai mươi bảy năm trước, trên bàn của Jalil, dưới con mắt giám sát của một giáo sĩ khác.
—★—
Mariam đã ở tù được mười ngày. Bà ngồi cạnh cửa sổ phòng giam, nhìn cuộc sống của tù nhân bên ngoài sân. Khi những cơn gió mùa hè thổi đến, bà ngắm những mẩu giấy vụn bay cuốn thành vòng xoắn tít mù, sau đó cuốn mạnh và bay ra khỏi tường. Bà nhìn những trận gió thổi bụi bay mù mịt, tạo thành lốc tràn ra ngoài sân. Tất cả mọi người, lính gác, tù nhân, lũ trẻ và Mariam, đều phải dùng khuỷu tay che mặt để tránh cát bụi, nhưng không thể tránh được. Chúng lẩn vào tai, lỗ mũi, quật vào mắt, vào da và xuyên qua cả kẽ răng. Mãi đến lúc trời nhá nhem tối, gió mới giảm bớt. Ban đêm gió thổi nhẹ, như để bù lại cho những cơn lốc điên cuồng của ban ngày.
Ngày cuối cùng Mariam ở nhà tù Walayat, Naghma đưa cho bà một quả quýt. Cô đặt nó vào lòng bàn tay Mariam rồi khẽ gập các ngón tay của bà lại. Sau đó cô òa khóc.
“Chị là người bạn tốt nhất mà tôi từng gặp,” cô nói.
Mariam dành cả ngày cuối cùng trong tù để ngồi bên cạnh song sắt cửa sổ nhìn các bạn tù ở dưới. Một vài người đang nấu ăn, một làn khói mang theo mùi lá thì là bốc lên, đẩy luồng hơi ấm len qua cửa sổ. Mariam ngắm bọn trẻ con chơi trò bịt mắt. Hai bé gái đang hát một điệu đồng dao, Mariam nhớ lại khi bà còn nhỏ, Jalil đã từng hát bài này cho bà nghe khi bà ngồi trên một tảng đá và câu cá ở con suối:
Lili lili chiếc chậu tắm của chim,
Để trên bờ đất,
Con cá tuế ngồi trên vành uống nước,
Trượt xuống dưới chìm mất.
Đêm qua, Mariam mơ một giấc mơ không liền mạch. Bà mơ về những viên đá cuội, mười một viên, xếp chồng lên nhau. Jalil, trẻ lại, nụ cười chiến thắng, chiếc cằm chẻ, nốt ruồi duyên, áo khoác vắt qua vai, cuối cùng đã đến để chở cô con gái cưng của mình đi dạo trên chiếc xe Buick Roadmaster màu đen sáng bóng. Giáo sĩ Faizullah đang lần chuỗi hạt của mình và đi dạo cùng bà dọc theo dòng suối, bóng hai người in lên mặt nước và trên bờ cỏ rải rác những cây diên vĩ dại xanh, trong giấc mơ ấy, chúng thơm như cây đinh hương. Bà mơ thấy mẹ Nana đang đứng ở cửa kolba, giọng văng vẳng từ xa xa, gọi cô bé Mariam về ăn tối trong khi cô bé đang chơi ở đám cỏ rối mát rượi với lũ kiến bò quanh, những con bọ chạy nhốn nháo, châu chấu nhảy tanh tách giữa vạt cỏ xanh. Tiếng kêu kin kít của chiếc xe cút kít đang bò lên con đường đất. Mấy cái chuông trên cổ những chú bò kêu vang. Trên đồi, bọn cừu đang kêu be be.
—★—
Trên đường tới Sân vận động Ghazi, người Mariam xóc nảy trên thùng chiếc xe tải khi nó đi qua con đường đầy ổ gà và các bánh xe trượt trên đá sỏi. Cú xóc làm bà đau ở xương cụt. Một người lính Taliban trẻ cầm súng ngồi đối diện đang nhìn bà.
Mariam băn khoăn không biết liệu cậu ta có phải là người như bà nghĩ không. Trông cậu ta có vẻ tử tế với đôi mắt sáng và sâu, gương mặt hơi nhọn, ngón tay trỏ với móng tay sơn đen đang gõ nhịp vào thành xe.
“Bà có đói không, bà mẹ?” cậu hỏi.
Mariam lắc đầu.
“Tôi có một ít bánh quy. Ngon lắm. Nếu bà đói thì lấy mà ăn.”
“Không. Tashakor, người anh em ạ.”
Cậu gật đầu, nhìn bà đầy nhân từ. “Bà sợ à?”
Có gì đó khiến cổ họng Mariam nghẹn lại. Bằng giọng run run, bà nói thật với anh ta.
“Đúng. Tôi rất sợ.”
“Tôi có một bức ảnh của bố tôi,” anh ta nói. “Tôi không nhớ rõ ông ấy. Tôi chỉ biết là ông ấy đã từng làm nghề chữa xe đạp. Còn lại thì chẳng nhớ ông ấy đi lại như thế nào, cười ra làm sao hay giọng nói thế nào nữa.” Cậu nhìn ra xa, rồi lại nhìn Mariam. “Mẹ tôi nói rằng ông ấy là người can đảm nhất mà bà từng biết. Giống như vua sư tử ấy, bà ấy ví vậy. Nhưng mẹ tôi lại kể rằng ông ấy khóc như một đứa trẻ vào buổi sáng đám người cộng sản đến đưa ông ấy đi. Tôi kể với bà như vậy để bà thấy rằng người ta sợ hãi cũng là điều bình thường thôi. Không có gì phải xấu hổ, bà mẹ ạ.”
Lần đầu tiên trong ngày hôm đó, Mariam khóc một chút.
—★—
Hàng nghìn con mắt đổ dồn vào bà. Giữa đám đông chật kín người xem, ai cũng nghển cổ để nhìn rõ hơn. Tiếng lưỡi lậc chậc. Tiếng rì rầm nổi lên khắp khán đài khi Mariam được đưa ra khỏi xe tải. Mariam hình dung thấy người ta lắc đầu khi nghe tuyên bố tội danh của bà. Nhưng bà không ngước mắt lên để xem họ lắc đầu phản đối hay là khoan dung, chỉ trích hay là thương xót. Họ chẳng là gì mà bà phải quan tâm.
Sáng sớm hôm đó, bà đã sợ rằng mình sẽ làm điều gì ngu ngốc, rằng bà sẽ khóc lóc, van xin. Bà sợ rằng mình sẽ la hét, nôn mửa hay thậm chí bĩnh ướt cả quần, rằng trong những giây phút cuối cùng của mình, cái bản năng sinh học hay sự ô nhục thể xác sẽ phản bội bà. Nhưng khi bà được đưa xuống từ xe tải, hai chân bà không khuỵu vào nhau. Hai tay bà không vùng vẫy. Người ta không phải kéo bà đi. Và khi cảm thấy dao động, bà nghĩ đến Zalmai, đứa bé đã bị bà lấy đi tình yêu của cuộc đời nó, đứa bé mà những ngày còn lại sẽ là chuỗi ngày u ám vì không còn bố ở bên. Và rồi Mariam đã bước đi một cách vững vàng mà không cần ai phải canh chừng.
Một người đàn ông mang vũ khí tiến lại chỗ bà và yêu cầu bà đến cột gôn phía Nam. Mariam cảm thấy rõ đám người đứng xem ngày càng dồn lại một cách đầy háo hức. Bà không nhìn lên. Bà cúi mặt xuống đất, mắt dán vào cái bóng của mình và cái bóng của người hành quyết đang theo sát bên cạnh.
Mặc dù cuộc sống cũng có những khoảnh khắc rất đẹp nhưng Mariam biết rằng trong phần lớn thời gian, cuộc đời đã tàn nhẫn đối với bà. Vậy nhưng khi bà bước hai mươi bước cuối cùng, bà đã không thể ngăn mình ao ước được sống thêm. Bà ước được gặp lại Laila, được nghe tiếng cười lanh lảnh của cô, được ngồi với cô thêm lần nữa để nhâm nhi một cốc chai và ăn halwa dưới bầu trời đầy sao. Bà tiếc rằng bà sẽ không bao giờ được nhìn thấy Aziza lớn lên, không được ngắm nhìn con bé trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, không được sơn lá móng lên tay nó và ném kẹo noqul trong lễ cưới của nó. Bà sẽ không bao giờ được chơi với đám con của Aziza. Bà đã mong chờ điều đó biết bao, cái lúc bà trở thành một bà già và ngồi chơi với lũ trẻ nhà Aziza.
Gần tới cột gôn, người lính đi sau yêu cầu Mariam đứng lại. Mariam làm theo. Qua tấm lưới mạng chiếc burqa, bà nhìn thấy bóng cánh tay anh ta đang giơ cái bóng của khẩu Kalashnikov.
Trong những giây phút cuối cùng này, Mariam khao khát nhiều thứ hơn bao giờ hết. Nhưng khi nhắm mắt lại, bà không còn cảm thấy tiếc nuối nữa, chỉ thấy sự bình yên và thanh thản tràn ngập khắp cơ thể. Bà nghĩ về sự ra đời của mình, harami của một người thấp hèn, một thứ được tạo ra không chủ định, một tai nạn đáng tiếc. Một thứ cỏ dại. Nhưng dù sao bà cũng dang rời bỏ thế giới này như một người đàn bà đã yêu và đã được yêu. Bà vĩnh biệt cuộc sống với tư cách là một người bạn, người đồng hành, người bảo vệ. Một người mẹ. Một người quan trọng. Không. Cũng không quá tệ, Mariam nghĩ, khi chết theo cách ấy. Không quá tệ. Đây là kết thúc chính đáng của một cuộc sống được bắt đầu bằng những điều không chính đáng.
Những ý nghĩ cuối cùng của Mariam là một vài từ trong kinh Koran mà bà lẩm nhẩm bằng hơi thở.
Người đã tạo ra thiên đường và mặt đất; Người đã tạo ra đêm nối tiếp ngày, ngày nối tiếp đêm và Người đã tạo ra mặt trăng và mặt trời một cách có chủ đích, tất cả đều vận hành trong thời gian định trước của mình. Hiển nhiên Người là Đấng tối cao, là người xóa bỏ mọi tội lỗi.
“Quỳ xuống,” người lính Taliban nói.
Lạy Thượng đế tối cao! Hãy tha thứ và khoan dung bởi Ngài là người độ lượng nhất.
“Quỳ xuống đây, hamshira. Và cúi xuống.”
Lần cuối cùng, Mariam làm như người ta bảo.